Go Back   Cựu Học Sinh Lê Quý Đôn - Long An > :: Câu Lạc Bộ :: > ..:: CLB Văn Thơ ::..

..:: CLB Văn Thơ ::.. Văn học , Thơ , Truyện , tùy bút , ..

Nếu còn có ngày mai - Sidney Sheldon

Nếu còn có ngày mai - Sidney Sheldon

this thread has 27 replies and has been viewed 12888 times

Gởi Ðề Tài Mới Trả lời
 
Ðiều Chỉnh Xếp Bài
Old 25-08-2006, 02:21 PM   #1
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

<span style=\'color:red\'>Chương 2
PHILADELPHIA

Thứ sáu, 21 tháng Hai, 8 giờ 00.
Tracy Whitney từ hành lang khu nhà nàng ở bước ra bầu trời đầy mưa và tuyết. Mưa rơi trên những chiếc xe hơi sang trọng bóng loáng do những tài xế mặc đồng phục lái chạy đọc đường Market, và trên những túp nhà bỏ hoang làm bằng bìa cứng nằm lộn xộn trong những khu ổ chuột vùng Bắc Philadelphia.
Mưa rửa sạch những chiếc xe hơi và làm ướt những đống rác chất ngập trước dãy nhà hoang. Tracy đang trên đường đi làm, nhịp chân thoăn thoăn dọc theo đường Chesnut hướng tới nhà bảng, và Đó là tất cả những gì nàng có thể làm, để khỏi hát vang lên. Nàng mặc áo mưa màu hoàng yến, đi ủng và đội mũ đi mưa màu vàng, không che kín nổi mớ tóc dày màu hạt dẻ. Tracy đang ở giữa tuổi hai mươi, với gương mặt thông minh, linh lợi, cái miệng chúm chím, gợi cảm, cặp mắt sáng - có thể chuyển từ màu xanh rêu nhạt sang màu ngọc bích sẫm trong giây lát - và một thân hình khỏe mạnh, uyển chuyển. Màu da nàng cũng sẽ thay đổi từ trắng nõn nà sang hồng sẫm, tùy theo tâm trạng bực tức, mệt mỏi, hay bị kích động. Mẹ đã cớ lần nói với nàng. “Thật sự là đôi lúc mẹ chẳng nhận ra được con. Con thay đổi cứ như một làn gió ấy”.
Lúc này, khi Tracy đang đi dọc phố, người đi đường ngoái nhìn mỉm cười, ghen ty với vẻ hạnh phúc rạng rỡ trên gương mặt nàng, và nàng mỉm cười đáp lại. Hạnh phúc thế này thì chả ai giữ được vẻ nghiêm nghị cả, Tracy nghĩ. Mình sắp cưới người đàn ông mình yêu, và mình sẽ sinh con cho anh ấy. Còn muốn gì hơn nữa?
Khi tới nhà băng, nàng liếc đồng hồ. Tám giờ hai mươi phút. Các cánh cửa của Ngân hàng Ủy thác và Bảo hiểm Philadelphia còn phải tới mười phút nữa mới mở ra Đón nhân viên, song Clarence Desmond - phó chủ tịch nhà băng phụ trách khu vực quốc tế đang tắt hệ thống báo động bên ngoài và mở cửa. Tracy thích thú được xem cái thủ tục buổi sáng này, vui vẻ đứng dưới mưa chở đợi trong khi Desmond đi vào và khóa trái cánh cửa sau lưng.
Các nhà băng trên khắp thế giới đều có những quy định bảo vệ nghiêm ngặt và ở đây cũng không ngoại lệ. Thủ tục này là bất di bất dịch, trừ dấu hiệu an ninh - thay đổi từng tuần lễ. Hôm Đó, dấu hiệu này là tấm mành được buông lửng phân nửa, cho thấy việc kiểm tra đang được tiến hành để bảo đảm là không có kẻ xâm nhập nào đang lẩn khuất chờ bắt giữ các nhân v30 iên làm con tin.
Clarence Desmond đang kiểm tra các buồng vệ sinh, phòng lưu trữ, két sắt.
chỉ khi nào hoàn toàn yên lòng rằng đang chỉ có mình ông ta thì lúc ấy tấm mành mới được kéo lên như một dấu hiệu thông báo rằng tất cả đều tốt đẹp.
Kế toán trưởng bao giờ cũng là người được vào đầu tiên, và sẽ có mặt bên hệ thống báo động khẩn cấp cho tới khi tất cả đã vào hết, ông ta sẽ tự tay khóa cửa lại.
Đúng 8 giờ 30, Tracy Whitney đi vào hành lang sang trọng cùng với các đồng nghiệp. Nàng cởi áo mưa, mũ, ủng và lắng nghe những lời phàn nàn về thời tiết.
“Một cơn gió tồi tệ đã cuốn bay cái dù của tôi”, thủ quỹ than vãn.
Người thu tiền đùa, “Tôi thấy hai con vịt đang bơi trên đường Market”.
Tin thời tiết nói rằng còn phải một tuần xấu trời nữa. Tôi chỉ mong giá mình đang ở Florida”.
Tracy mỉm cười và bắt tay vào việc. Nàng phụ trách phần chuyển khoản điện tử. Chỉ gần đây thôi, việc chuyển tiền từ nhà băng này qua nhà băng khác và từ nước này qua nước khác còn là một công việc chậm chạp, mệt mỏi, đòi hỏi biết bao mẫu giấy tờ và lệ thuộc vào dịch vụ bưu điện cả trong lẫn ngoài nước. Với sự ra đời của máy tính, mọi thứ thay đổi thật nhanh chóng, và những khoản tiền khổng lồ có thể được chuyển tức thời. Công việc của Tracy là nhận và chuyển khoản bằng máy tính điện tử. Tất cả các giao dịch đều được mã hóa, thay đổi định kỳ, nhằm ngăn chặn việc sử dụng bất hợp lệ. Mỗi ngày, hàng triệu đồng đô la điện tử chuyển qua tay Tracy. Đó là một công việc lý thú, là mạch máu của công cuộc kinh doanh trên toàn thế giới, và cho tới trước khi Charles Stanhope III bước vào cuộc sống của nàng thì hoạt động ngân hàng là điều hấp dẫn nhất.
Ngân hàng Ủy thác và Bảo đảm Philadelphia có những chi nhánh quốc tế đồ sộ, và vào bữa ăn trưa, Tracy cùng các đồng nghiệp thường bàn tán về các hoạt động diễn ra trong mỗi buổi sáng. Đó là một cuộc chuyện trò nặng đầu.
Deborah, kế toán trưởng, loan báo, “Chúng ta vừa phong tỏa khoản tín dụng chừng một trăm triệu đô la cho Thổ Nhĩ Kỳ ...”.
Mae Trenton, thư ký của phó chủ tịch nhà băng, nói với giọng bí mật, “Tại cuộc họp ban quản trị sáng nay họ đã quyết định tham gia vào việc tài trợ mới cho Peru. Khoản thù lao trông thấy là hơn năm triệu đô la ...”. Jon Craighton, một kẻ cuồng tin, chêm vào. “Tôi biết là chúng ta đang tham gia giải pháp hỗ trợ tài chính năm mươi triệu đô la cho Mehico:
Bọn khố rách áo ôm không đáng hưởng một đồng xu ...”.
“Thật là lạ”, Tracy trầm ngâm. “Chính các nước chỉ trích Mỹ quá đề cao đồng tiền lại là những kẻ đầu tiên yêu cầu chúng ta tài trợ”.
Đó cũng chính là đề tài khiến nàng và Charles có cuộc tranh cãi đầu tiên.
Tracy gặp Charles Stanhope III tại một cuộc hội thảo tài chính, nơi anh là phát ngôn viên của phía khách. Charles lãnh đạo một công ty đầu tư do cụ nội anh sáng lập, và công ty này có nhiều quan hệ với nhà băng của Tracy. Sau phát biểu của Charles, Tracy đã tỏ ra bất đồng với phân tích của anh về khả năng của các nước thế giới thứ ba trong việc trả nợ các khoản tiền khủng khiếp mà họ đã vay từ các ngân hàng thương mại trên thế giới và từ các chính phủ phương Tây.
Thoạt tiên, Challes thấy buồn cười, sau thì bị hấp dẫn bởi những lập luận hăng hái của người phụ nữ trẻ đẹp. Họ tranh luận tới tận sau bữa ăn chiều ở nhà hàng Bookhirlđer.
Ban đầu, Tracy không thấy có ấn tượng gì về Challes, thậm chí cả khi đã biết anh chàng được coi là người đàn ông độc thân có giá nhất Philadelphia. Charles ba nhăm tuổi, là con một gia đình giàu có và thành đạt của một trong những dòng họ lâu đời nhất tiểu bang. Cao khoảng lm70, với mớ tóc thưa, cặp mắt nâu cộng với một phong cách có vẻ nghiêm chỉnh và mô phạm, Tracy nghĩ anh ta hẳn chỉ là một cậu ấm mà thôi.
Dường như đọc được ý nghĩ ấy, Charles dướn người về phía trước và nói.
“Cha tôi tin rằng người ta đã trao nhầm con cho ông ở bệnh viện”.
“Cái gì?
“Tôi là một sự thụt lùi. Tôi đơn thuần không nghĩ rằng tiền là mục đích và là tất cả cuộc sống. Song mong cô đừng bao giờ nói lại với cha tôi điều này”.
Ở Charles có sứ khiêm tốn đáng yêu đến mức Tracy bỗng thấy mình gần gũi với anh hơn. Nàng băn khoăn với ý nghĩ llệu cưới một người như anh ta thì sẽ ra sao - với một gia sản khổng lồ.
Cha Tracy đã phải mất cả cuộc đời để xây dựng nên cái cơ ngơi mà gia đình Stanhope sẽ có thể cười nhạo là vô ý nghĩa. Dòng họ Stanhope và dòng họ Whitney sẽ không bao giờ kết hợp được, Tracy nghĩ. Dầu lửa. và nước lã. Và gia đình Stanhope là dầu. À, sao ngốc nghếch thế. Lảm nhảm một mình. Một người đàn ông mời mình đi ăn chiều, thế thôi, vậy mà mình lại đang quyết định có muốn cưới anh ta không. Chúng ta có thể sẽ không bao giờ gặp lại cơ mà.
Tiếng Charles vang lên. “Tôi hy vọng là cô có thể rảnh vào chiều mai ...?”.
Philadelphia là một thành phố đầy những choáng ngợp. Vào các tối thứ bảy, Tracy và Charles đi xem ba lê hoặc nghe dàn nhạc giao hưởng Philadelphia chơi dưới sự chỉ huy của Rlcardo Muti. Trong tuần thì họ tới khu chợ mới và những cửa hàng, cửa hiệu ở khu Society Hill. Họ ăn với thịt xay trộn với phó mát ở một bàn ăn trước tiệm Gêllo và dùng bữa ở cafê Hoàng Gla - một trong những nhà hàng quý phái nhất tiểu bang. Họ đi sắm đồ ở Head House Square và lang thang thăm bảo tàng Rodin.
Tracy dừng bước trước bức tượng. Người suy tư rồi đưa mắt nhìn Charles và nói. “Đó là anh đấy”.
Charles không thích tập thể dục, song Tracy lại thích:
Bởi vậy các sáng chủ nhật nàng thường chạy dọc đường West River Drlve.
Nàng tham dự tới thái cực quyền chiều chủ nhật, và sau giờ tập mệt nhoài song hồ hởi, nàng đến với Charles. Anh là một đầu bếp sành và thích làm các món ăn kiểu Ấn Độ kiểu Hoa Bắc ...
Charles là người Đúng giờ hạng nhất mà Tracy từng biết. Một lần nàng hẹn ăn chiều với anh và đến trể 15 phút khiến sự bực dọc của anh đã làm mất vui cả buổi tối. Từ Đó nàng thề sẽ luôn Đúng hẹn với anh.
Tracy không có một kinh nghiệm tình dục song với nàng dường như charles làm tình cũng giống như cách sống của anh:
chu đáo và rất chính xác. Có lần, Tracy quyết định bạo dạn và bất thường trên giường ngủ khiến Charles sững sờ đến mức nàng thầm băn khoăn liệu mình có thuộc loại đàn bà cuồng dâm loan không.
Việc có thai là bất ngờ và khi biết vậy. Tracy thấy bất ổn trong lòng. Charles chưa hề nói chuyện cưới xin và nàng không muốn anh cảm thấy bị bắt buộc hỏi cưới vì đứa trẻ. Tracy không chắc chắn mình có thể chịu được việc phá thai hay không và sự lựa chọn này cũng quá đau đớn. Nàng có thể nuôi dưỡng được đứa trẻ mà không cần sự giúp đỡ của nhà nó không, và thế thì có công bằng với đứa trẻ không?
Cuối cùng, Tracy quyết định báo tin cho Charles. Đó là một buổi tối sau bữa ăn chiều. Nàng chuẩn bị đồ ăn ở căn hộ của mình và trong nỗi lo lắng đã làm cháy cả món ăn mà Charles rất thích. Khi mang món thịt hầm và đậu tới trước mắt anh, nàng quên khuấy những lời lẽ đã chuẩn bị chu đáo mà bỗng thất lên.
“Em xin lỗi, Charles. Em có thai”.
Một sự im lặng kéo dài tưởng như không thể chịu nổi và khi Tracy vừa định cất tiếng thì Charles nói. “Dĩ nhiên là chúng ta sẽ cưới nhau”.
Tracy tràn ngập một cảm giác nhẹ nhõm. “Em không muốn anh nghĩ rằng em ... Anh biết đấy, anh không buộc phải cưới.
Anh giơ tay ngăn lại. “Anh muốn cưới em, Tracy. Em sẽ là một người vợ tuyệt vời”. Anh chậm rãi nói thêm. Tất nhiên là cha mẹ anh sẽ hơi ngạc nhiên một chút”.
Rồi anh mỉm cười hôn nàng. Tracy lặng lẽ hỏi. “Sao cha mẹ anh lại ngạc nhiên?”.
Charles thở dài. “Em thân yêu, anh e rằng em chưa hoàn toàn nhận ra rằng em đang bước vào một gia đình thế nào đâu. Dòng họ Stanhope luôn luôn lấy, xin lỗi, anh dùng dấu ngoặc kép, “Người cùng giới”, tức là dòng họ chính thống Philadelphia.
“Và người vợ của anh đã được chọn sẵn?” Tracy dò xét.
“Điều đó chẳng có ý nghĩa mảy may gì. Chủ yếu là anh đã chọn ai? Ta sẽ ăn chiều với cha mẹ vào thứ sáu tới đã đến lúc em phải gặp họ”.
Chín giờ kém 5 phút, tiếng ồn ào trong nhà băng có vẻ tăng lên. Mọi người nói nhanh hơn một chút và làm lẹ tay hơn một chút. Sau năm phút nữa, nhà băng sẽ mở cửa và tất cả đã phải sẵn sàng. Qua cửa sổ trước mặt, Tracy thấy khách hàng đang đứng chờ trên hè, dưới làn mưa lạnh.
Nàng thấy người bảo vệ nhà băng vừa chia xong các mẫu phiếu gửi và rút tiền vào các khoang kim loại đặt trên sáu chiếc bàn kê thành dãy trong gian đại sảnh.Khách hàng quen được phát phiếu mẫu này với mã số từ tính trên Đó để mỗi khi họ chuyển tiền vào thì máy tính sẽ tự động chuyển tới tài khoản thích hợp. Còn khách thường thì không có sẵn loại này và sẽ phải điền vào một loại phiếu khác.
Người bảo vệ nhìn lên đồng hồ treo trên tường, và Đúng 9 giờ 30, trịnh trọng mở khóa cửa.
Ngày làm việc của nhà băng bắt đầu.
Trong thời gian tiếp đó, Tracy quá bận rộn trước chiếc máy tính, chẳng thể nghĩ tới chuyện gì khác, Mọi vụ chuyển khoản điện tử này đều phải được kiểm tra kép để bảo đảm rằng mã số của nó là xác thực. Khi một tài khoản nào Đó phải được ghi nợ, nàng đưa vào máy số tài khoản, số tiền và tên nhà băng mà khoản tiền phải được chuyển tới. Mỗi nhà băng có một mã số riêng và những mã số này được ghi trong một danh ba mật - bao gồm mã sốc của tất cả các ngân hàng chủ yếu trên thế giới.
Buổi sáng nhanh chóng trôi qua. Tracy dự định dùng thời gian nghỉ ăn trưa để đi làm đầu, và cũng đã hẹn với Larry S.Botte. Ông ta lấy đắt song đáng tiền thôi, bởi lẽ nàng muốn xuất hiện trước cha mẹ Charles trong vẻ tươm tất nhất.
Mình phải làm cho ông bà ấy thích mình, Mình không cẩn biết họ đã chọn ai cho anh ấy, Tracy nghĩ. Không ai có thể làm cho Charles hạnh phúc bằng mình cả.
Mười ba giờ, khi Tracy đang khoác chiếc áo mưa lên người thì Clarence Desmond gọi nàng tới văn phòng ông ta. Desmond có dáng vẻ một viên chức quan trọng. Nếu nhà băng mà sử dụng tới hệ thống thương mại truyền hình thì ông ta sẽ là người phát ngôn hoàn hảo nhất. Ăn mặc kiểu thủ cựu với vẻ quyền lực cứng rắn theo lối cổ. Desmond làm cho người ta thấy có thể tin cậy nơi ông.
“Ngồi xuống. cô Tracy”. Ông ta vẫn tự hào là biết tên đầu của mọi nhân viên. “Trời đất quá phải không?”.
“Thưa vâng”.
“Thế nhưng mọi người vẫn tiếp tục cáe hoạt động tiền tệ” Desmond đã nói hết phần nào đâu. Ông ta dướn người lên trên mặt bàn, “Tôi hiểu rằng cô và Charles Stanhope đã hứa hôn”.
Tracy ngạc nhiên “Chúng tôi chưa hề loan báo. Sao?”.
Desmond mỉm cười. “Mọi động thái của gia đình Stanhope chính là tin tức.
Tôi rất vui mừng. Tôi cho rằng cô sẽ trở lại làm việc với chúng tôi. Tất nhiên là sau tuần trăng mật. Chúng tôi không muốn mất cô. Cô là một trong những nhân viên quý giá nhất”.
Charles và tôi đã bản chuyện nàng và nhất trí rằng tôi sẽ hạnh phúc hơn với công việc”.
Desmond mỉm cười, thỏa mãn. Stanhope & Con trai là một trong số những công ty đầu tư quan trọng nhất trong cộng đồng tài chính, và thật là một trái mận ngọt nếu có thể có được một tài khoản riêng của nó trong chi nhánh này.
Ông ta ngả người trên ghế. “Khi trở lại sau tuần trăng mật của mình:
Tracy, cô sẽ được đề bạt cùng với một khoản tiền lương tăng đáng kể”.
“Ồ cảm ơn ngài? Thật là tuyệt vời”. Tracy biết mình xứng đáng với điều Đó và cảm thấy tự hào. Nàng nóng lòng muốn báo cho Charles biết. Với Tracy, dường như các đấng thần linh đang cùng nhau làm mọi việc để mang lại hạnh phúc cho nàng.
Ông bà Charles Stanhope sống trong một lâu đài cổ kính ở quảng trường Rittenhouse. Đó cũng là nơi Tracy thường đi ngang. Và bây giờ, nàng nghĩ, nó sắp sửa là một phần nào cuộc sống của mình!
Nàng thấy lo lắng. Mái tóc mới được làm rất đẹp không chịu nổi sự ẩm ướt của bầu không khí. Nàng đã thay đổi trang phục tới bốn lần. Hay nên mặc giản dị? Chính thức? Nàng có một bộ rất sang đặt mua tại tiệm Wammakers. Nếu mình mặe bộ này, họ sẽ nghĩ mình hoang phí. Nhưng nếu mặc mấy thứ đồ mua từ tiệm Post Horn, họ sẽ nghĩ mình không xứng lấy con trai họ. Ồ, mặc, đằng nào thì họ cũng nghĩ như vậy. Sau cùng nàng quyết định mặc chiếc váy yếm giản dị bằng len màu xám, cái áo ngắn bằng lụa trắng và đeo sợi dây chuyền vàng mỏng manh, món qùà Giáng sinh của mẹ gửi cho.
Cánh cổng tòa lâu đài được người quản gia mặc chế phục mở ra. “Xin chào cô Whitney”. Người quản gia biết tên mình. Đó là dấu hiệu, tốt hay xấu “Cho phép tôi giữ áo khoác cho cô?”. Những giọt nước rỏ xuống tấm thảm Ba Tư đắt tiền của chủ nhân.
Ông ta dẫn nàng qua một gian sảnh xây bằng đá cẩm thạch rộng chừng gấp đôi nhà băng. Tracy chợt hoảng hốt. Ồ, lạy Chúa. Mình mặc tệ quá1 Lẽ ra mình nên mặc bộ Yves Salnt Laurent, và khi bước vào căn phòng dùng làm thư viện nàng đã đứng đối diện cha mẹ Charles.
Charles Stanhope cha có vẻ khô khan ở giữa độ tuổi sáu mươi. Một người thành đạt, dường như là hình mẫu của con trai trong vòng 30 năm tới. Ông có cặp mắt màu nâu giống như Charles, cái cằm đầy cương nghị và màu tóc bạc.
Tracy gần như lập tức có thiện cảm với ông. Đó sẽ là một ông nội tuyệt vời cho đứa con của nàng và Charles.
Mẹ Charles hơi thấp và mập, tuy vậy vẫn có vẻ thanh thoát. Bà trông vừa cứng rắn vừa yếu đuối, Tracy nghĩ. Đó cũng sẽ là một bà nội tuyệt vời.
Bà Stanhope đưa tay ra. “Cô gái thân mến, thật qui hóa là cô đã đến. Chúng tôi yêu cầu Charles dành cho ít phút gặp riêng cô. Cô bằng lòng chứ?”.
“Dĩ nhiên là cô ấy không phản đối”. Cha Charles tuyên bố. “Mời ngồi ...
Tracy, phải không nhỉ?”.
“Thưa ngài, vâng”.
Hai ông bà ngồi bên nhau, đối diện với nàng:
Tại sao mình có cảm giác là đang sắp phải trải qua một cuộc thẩm vấn? Tracy như thể nghe thấy tiếng nói, của mẹ. “Con gái bé bỏng, Chúa sẽ không bao giờ bắt con làm một việc mà con không thể làm nổi. Có điều, hãy làm từng bước một”.
Bước đầu tiên của Tracy là một nụ cười yếu ớt và ngượng nghịu vì Đúng lúc Đó nàng cảm thấy có cái gì Đó chảy dọc theo chiếc tất, chỗ đầu gối. Nàng che đậy nó bằng hai bàn tay.
“Ra thế”, tiếng ông Stanhope trầm trầm, “Cô và thằng Charles muốn cưới nhau?”.
Cái từ “muốn” làm nàng áy náy. Chắc chắn là Charles đã nói rằng họ sắp cưới nhau.
“Vâng”. Tracy đáp lại.
“Thực sự cô và Charles chưa biết nhau lâu có phải không?” Bà Stanhope hỏi.
Tracly găng kìm chế sự bất bình. Mình nghĩ Đúng mà.
Đây là một cuộc thẩm vấn.
“Thưa bà Stanhope, cũng đủ lâu để biết rằng chúng tôi yêu nhau”.
“Yêu?” Ông Stanhope nhại lại.
Bà Stanhope nói. “Này cô Whitney, nói thẳng ra, cái thông báo của Charles đã làm tôi và cha nó giật mình”.
Bà cười nhếch miệng. “Chắc Charles đã nói với cô về Charlotte rồi chứ?” Bà thấy nét mặt Tracy. “Tôi biết mà.
Hừ, nó và Charlotte cùng lớn lên với nhau. Chúng luôn luôn thân thiết, và hừ, nói thẳng, mọi người đều chờ đợi chúng sẽ loan báo việc hứa hôn trong năm nay”.
Chẳng cần phải nói với nàng về Charlotte, Tracy hoàn toàn có thể hình dung ra cô ta. Sống ở gần kề. Giàu có và cùng một nền giáo dục xã hội, như Charles.
Qua các trường học tốt nhất. Yêu thích ngựa và đã giành cúp.
Hãy cho chúng tôi biết về gia đình cô”. Ông Stanhope đề nghị.
Lạy Chúa, đây quả là một cảnh trong bộ phim chiếu vào giờ khuya. Tracy ngủ miên man, mình là nhân vật Rita Hayworth, gặp cha mẹ của Cary Grant lần đầu tiên. Mình cần một ly nước. Trong những bộ phim cũ thì. Người quản gia luôn xuất hiện kịp thời với một khay đựng đồ uống.
“Cô sinh ra ở đâu, cô gái thân mến?” Bà Stanhope hỏi.
“Ở Louisiana. Cha tôi là một thợ máy”. Chả cần phải nói thêm điều Đó song Tracy không cưỡng nổi. Mặc kệ họ. Cô yêu quý và tự hào về cha mình.
“Một thợ máy?”.
“Vâng. Ông đã bắt đầu với một xưởng cơ khí nhỏ ở New Orleans và xây dựng nó thành một công ty tương đối lớn trong lĩnh vực Đó. Khi cha tôi mất cách đây năm năm, mẹ tôi đứng ra nắm việc kinh doanh”.
“Thế cái ... công ty này sản xuất.
“Ống xả và những phụ tùng ô tô Khác”.
Hai ông bà Stanhope đưa mắt nhìn nhau và cùng nói, “Ra vậy”.
Giọng điệu họ làm Tracy căng thẳng. Nàng tự hỏi, để yêu được họ, không biết mình sẽ phải mất bao nhiêu thời gian. Nàng nhìn vào hai gương mặt khó chịu trước mắt, và buột miệng, bất kể sợ hãi, “Ông bà sẽ thực sự thấy mến mẹ con. Bà đẹp, thông minh và hấp dẫn. Bà là người gốc miền Nam. Tất nhiên, vóc người bà rất nhỏ, cao chừng như bà, thưa bà Stanhope”. Giọng nàng yếu dần và lặng hẳn do sự im lặng đối nghịch. Nàng mỉm cười ngốc nghếch - và nụ cười tắt ngay vì cái nguýt của bà Stanhope.
Đột nhiên, ông Stanhope nói với vẻ lạnh tanh. “Chạrles thông báo rằng cô đang có bầu”.
Trời, giá mà anh ấy chưa nói gì hết? Thái độ quá rõ là họ không tán thành, như thể con trai họ chẳng hề liên quan gì tới việc Đó. Họ đã khiến nàng cảm thấy bị lăng nhục. Giờ thì mình biết là mình cần phải mặc như thế nào, Tracy nghĩ, với một chữ cái viết hoa.
“Tôi không hiểu nổi sao mà ngày nay”, bà Stallhope bắt đầu, song không nói được hết” câu vì Đúng lúc Đó Charles bước vào phòng. Tracy chưa bao giờ thấy sung sướng đến như vậy.
Nào”, Charles hồ hởi. “Mọi người trò chuyện lạ sao?”.
Tracy đứng lên và lao vào vòng tay anh. “Ô, anh yêu quý” Nàng ôm chặt anh, lòng thầm nghĩ thật may Charles không giống như mẹ. Anh sẽ không thể bao giờ lại giống họ đượe. Họ có đầu óc hẹp hòi, khinh người.
Có tiếng hắng giọng, và người quản gia bước vào với một khay đồ uống. Tất cả rồi sẽ tất, Tracy tự nói với mình. Cuốn phim sẽ kết thúc có hậu cho mà xem.
Bữa cơm chiều thật là thượng hạng, song Tracy không bụng dạ nào mà ăn nữa. Họ bàn bạc về hoạt động ngân hàng, chính trị và tình trạng nghèo Đói trên thế giới.
Không khí thân thiện và lịch thiệp. Không có ai lớn tiếng nói toạc ra rằng.
“Cô đã bẫy con trai tôi vào việe cưới xin”.
Nói một cách công bằng nhất, Tracy thầm nghĩ, họ có quyền quan tâm về người phụ nữ mà con trai họ sẽ kết hôn. Một ngày nào Đó, Charles sẽ làm chủ công ty và điều quan trọng là anh ấy có người vợ xứng đáng. Tracy tự hứa với mình, anh ấy sẽ có.
Charles nhẹ nhàng cầm lấy bàn tay Tracy đang vò chiếc khăn ăn dưới mặt bàn, mỉm cười và hơi nháy mắt.
Tim nàng rộn lên.
Tracy và con muốn một lễ cưới nhỏ”. Charles nói, “và sau Đó ...”.
“Vớ vẩn”, bà Stanhope cắt ngang. “Gia đình ta không có những lễ cưới nhỏ, Charles. Có nhiều bè bạn sẽ cuốn tới dự lễ cưới của con”. Bà đưa mắt nhìn Tracy, xem xét vóc dáng nàng. “Có thể là chúng ta sẽ cho gửi thiệp mời ngay”.
Và như nghĩ lại, bà nói thêm, “Nghĩa là nếu các con bằng lòng?”.
“Vâng, tất nhiên là thế rồi”. Quả thật sắp có một lễ cưới Tại sao mình còn ngờ vực được?
Bà Stanhope nói, “Một số khách mời sẽ từ nước ngoài tới Mẹ đã sắp xếp để họ có thể ở đây, trong ngôi nhà này”.
Ông Stanhope hỏi. “Cô cậu đã quyết định hưởng tuần trăng mật ở đâu chưa?”.
Charles mỉm cười, “Đó là thông tin bí mật cha ạ”. Anh nắm chặt tay Tracy. - “Tuần trăng mật của các con sẽ kéo đàí bao lâu?” Bà Stanhope dò hỏi.
“Khoảng năm mươi năm ạ” Charles đáp. Và Tracy sung sướng với lời đáp ấy.
Sau bữa ăn, họ vào, thư viện nhấm nháp rượu mạnh, và Tracy ngắm nghía căn phòng tường ốp gỗ sồi với những giá đầy sách bọc da, hai họa phẩm của Corots, một Copley và một Reynolds. Nếu như Charles không có tiền thì điều Đó đối với nàng cũng chẳng hề gì song nàng cũng tự thú với mình rằng sống thế này thì quả là dễ chịu.
Tới gần nửa đêm, Charles lái xe đưa Tracy về căn hộ nhỏ của nàng gần công viên Fairmount.
Tracy, anh hy vọng rằng tối nay không phải là quá khó khăn đối với em. Mẹ và cha anh đôi lúc quá khắt khe. “Ồ, không, hai ông bà đều thật đáng yêu”.
Tracy nói dối. Nàng mệt lả với không khí căng thẳng của buổi tối, song khi họ dừng bước trước cửa phòng, nàng khẽ hỏi, “Anh vào với em chứ, Charles?”.
Nàng muốn được anh ấp ủ trong vòng tay, muốn nghe anh nói. “Anh yêu em, em yêu dấu. Không ai trên đời này có thể ngăn cách chúng ta”.
Anh trả lời. “Đêm nay sợ không được. Sáng mai anh nhiều việc lắm”.
Tracy giấu nỗi thất vọng, “Cũng được. Em hiểu, anh yêu ạ”.
“Ngày mai anh sẽ nói chuyện với em! Anh hôn phớt nhẹ, và nàng đứng trông theo tới khi anh khuất nơi đầu hành lang.
Căn phòng bỗng sáng bừng và tiếng chuông báo cháy phá vỡ không khí yên tĩnh. Tracy giật bắn người, ngồi nhổm dậy, mắt vẫn lờ đờ ngái ngủ, mũi hít tìm mùi khói trong căn phòng đã tối lại. Tiếng chuông vẫn tiếp tục, và nàng dần nhận ra Đó là chuông điện thoại. Chiếc đồng hồ bên tường chỉ 2 giờ 30. Ý nghĩ hất hoảng đầu tiên của nàng là đã có chuyện gì Đó xảy đến với Charles. Nàng chộp lấy ống nghe. “A lô?”.
Một giọng đàn ông từ xa thẳm hỏi. “Tracy Whitney?”.
Nàng lưỡng lự. Nếu đây là một cú điện thoại khiêu dâm ... “Ai Đó?”.
“Trung úy Miller ở Sở cảnh sát New Orleans. Đó có phải là Tracy Whitney không?”.
“Vâng”. Nàng bắt đầu hồi hộp.
Tôi sợ rằng tôi có tin buồn cho cô”.
Tay nàng nắm chặt ống nghe.
“Tin về mẹ cô”.
“Có. Có phải mẹ bị một tai nạn gì không?”.
“Bà đã chết, thưa cô Whitney”.
“Không?” Nàng thét lên. Đây hẳn là một cú điện thoại khiêu dâm. Một gã kỳ quặc nào Đó đang cố dọa nàng.
Không có chuyện gì đối với mẹ cả. Mẹ vẫn còn sống. “Mẹ yêu con nhiều, rất nhiều, Tracy”.
“Tôi rất buồn phải báo tin cho cô thế này”, giọng nói từ đầu dây kia vang lên.
Đúng là thật. Nó là một, cơn ác mộng, song nó đang diễn ra. Nàng không nói nổi nữa. Trí óc và cả lưỡi nàng đã tê liệt Giọng viên trung úy vang lên. “A lô ...?
Cô Tracy Alô.
“Tôi sẽ bay chuyến đầu tiên”.
Nàng vào trong bếp, ngồi thừ ra và nghĩ về mẹ. Thật vô lý, mẹ không thể chết được. Mẹ vốn luôn mạnh mẽ, sôi động. Hai mẹ con đã gần gũi” và thân thiết biết bao. Từ nhỏ, Tracy đã có thể đến giãi bày vôi mẹ những mắc mớ, chuyện trò về nhà trường và bọn bạn trai, và sau này, về đàn ông. Khi cha Tracy chết, biết bao kẻ lăm le mua lại cơ nghiệp của ông. Họ hứa trả Doris Whitney một khoản tiền lộn đủ để bà sống khỏe tới trọn đời, song bà kiên quyết từ chối.
“Cha con tạo dựng cơ nghiệp này, mẹ không đời nào vứt bỏ bao công sức của cha con”. Và bà đã làm cho công việc tiếp tục thành đạt.
Ôi mẹ, Tracy nghĩ, con yêu mẹ nhiều. Mẹ sẽ không bao giờ thấy Charles, mẹ không bao giờ thấy cháu của mẹ cả Và rồi nàng òa khóc nức nở.
Nàng pha một tách cà phê và rồi để Đó lạnh ngắt, ngồi thừ trong bóng tối, Tracy cảm thấy mình muốn gọi Charles một cách tuyệt vọng để nói với anh mọi chuyện, để được có anh bên cạnh. Nàng nhìn đồng hồ ở trong bếp. Mới 3 giờ 30 và biết không thể đánh thức anh giờ này. Đành sẽ gọi cho anh khi tới New Orleans vậy. Nàng băn khoăn không biết kế hoạch cưới xin có bị ảnh hưởng không, và lập tức thấy tội lỗi với ý nghĩ Đó. Làm sao còn có thể nghĩ đến bản than mình vào lúc này nhỉ? Trung úy Mil1er đã nói. “Khi tới đây, cô kêu tắc xi đến trụ sở cảnh sát ngay”. Tại sao lại trụ sở cảnh sát? Tại sao nhỉ? Cái gì đã xảy ra?
Phi trường New Orleans. Đứng đợi với va ly trong tay, vây quanh là những hành khách đang sốt ruột chen lấn, Tracy cảm thấy nghẹt thở. Cố chen gần tới đầu băng chuyền tải hành lý, song chẳng ai để nàng len qua. Ngày càng sợ hãi khi nghĩ tới điều phải chứng kiến trong ít giờ tới, nàng cố tự nhủ Đó chỉ là một sự nhầm lẫn, song trong đầu cứ vọng những lời:
Tôi sợ rằng tôi có tin buồn cho cô ... Bà nhà đã chết, thưa cô Whitney. Tôi rất buồn phải báo tin cho cô thế này ...
Sau cùng, khi đã nhận lại va ly, Tracy lên một chiếc tắc xi và nhắc lại địa chỉ mà viên Trung úy đã bảo:
“715 đường South Broad”.
Người lái xe nhìn nàng qua gương chiếu hậu. “Đồn cảnh sát à?”.
Không trò chuyện. Lúc này thì không. Đầu Tracy đầy ắp những ý nghĩ lộn xộn.
Chiếc xe chạy về phía Đông, hướng tới khu Hồ Pon Chartrain Causeway.
Người lái xe tiếp tục huyên thuyên, “Cô tới dự cuộc lễ lớn này phải không?
Nàng không hiểu anh ta nói gì, song thầm nghĩ, không, tôi đến đây vì sự chết chóc. Mang máng tiếng nói khàn khàn của người lái xe, song nàng không nghe rõ gì cả, chỉ ngồi cứng đơ trên ghế, lơ đãng với những khung cảnh quen thuộc lướt qua hai bên. Mãi khi tới khu người Pháp, Tracy mới chợt tỉnh vớl những tiếng ồn ào ngày càng rõ. Đó là tiếng ồn ào eủa một đám Đông đã trở nên điên loạn, những kẻ náo loạn đang gào thét những lời kinh cầu nguyện.
“Tôi chỉ có thể chở cô tới đây thôi”. Người lái xe thông báo. Và Tracy ngẩng lên. Một cảnh tượng khó tin. Hàng trăm nghìn người đang hò hét, mang những mặt nạ vẽ rồng, cá sấu và thánh thần của những kẻ tà giáo, tràn ngập lòng đường, hè phố với những âm thanh điên loạn. Một cảnh điên khùng với những đám người nhảy múa, âm nhạc và cả những xe diễu hành.
“Tất nhất là cô ra đì trước khi họ lật nhào xe tôi”, người lái xe nói “Cái lễ Mardi Grass quỉ quái này”.
Đúng thôi. Bây giờ là tháng Ba, khi mà cả thành phố chào Đón ngày bắt đầu của tuần chay. Tracy chui ra khỏi xe và đứng co rúm lại, vali trong tay. Chỉ giây lát sau nàng đã bị cuốn vào cái đám Đông la hét, nhảy múa. Vali bị giật khỏi tay và biến mất. Nàng bị một lão to béo mang mặt nạ ma quỷ vồ lấy hôn hít. Một người mang mặt hươu sờ nắn hai bầu vú và một kẻ mang mặt nạ gấu vồ lấy từ đằng sau và nâng bổng nàng lên. Nàng vùng ra, cố chạy song không thể, đã bị vây chặt trong cái đám rước nhảy múa, ca hát om sòm này. Nàng dịch chuyển cùng với đám Đông, nước chảy ròng trên mặt. Sau cùng, khi nàng thoát ra được và chạy vào một đường hẹp yên tĩnh, nàng đã gần phát điên lên, phải đứng bất động một lúc lâu, tựa người vào cột đèn, thở thật sâu, dần dần mới bình tĩnh hơn. Nàng đi về hướng đồn cảnh sát.
Trung úy Miller, một người đứng tuổi, vẻ ưu phiền với gương mặt dầu dãi nắng mưa, đã tỏ ra thực sự lúng túng. Xin lỗi, tôi không ra sân bay Đón cô được”, anh ta nói với Tracy. “Cả thành phố đã trở nên điên khùng. Chúng tôi đã xem xét tất cả giấy tờ của mẹ cô và cô là người duy nhất mà chúng tôi biết để báo tin”.
Ông trung úy, xin ông cho biết điều ... điều gì đã xảy đến với mẹ tôi”.
Bà đã tự sát”.
Nàng thấy ớn lạnh. Không. Không thể thế được! Tại sao mẹ lại phải tự sát?
Bà hoàn toàn có thể sống hạnh phúc mà”. Tiếng nới nàng rời rạc, yếu đuối.
Khu nhà xác lạnh lẽo, đầy ghê rợn. Tracy được dẫn dọc theo một hành lang trắng toát tới căn phòng trống, ông rãi và được sát trùng. Rồi đột nhiên nàng nhận ra rằng căn phòng đâu có trống rỗng. Nó ngập đầy sự tang tóc Sự tang tóc của chính nàng.
Một nhân viên mặc áo choàng trắng kéo ra một ô kéo lớn. “Cô có muốn nhìn lần cuối?”.
Không, nàng thầm nghĩ, tôi không muốn nhìn một thân thể đã chết trong cái hộp Đó. Nàng muốn rời khỏi chỗ này, muốn thời gian lùi lại vài giờ trước Đó, khi mà tiếng chuông vang lên. Giá mà Đó là tiếng chuông báo cháy thật sự, chứ không phải chuông điện thoại báo tin mẹ nàng đã chết. Tracy bước tới chậm chạp, lòng đau thắt, đứng nhìn cái thân thể không còn sự sống, từng sinh ra, nuôi dưỡng, cười đùa, và yêu quý nàng, rồi cúi xuống và hôn lên má người đã chết. Cặp má lạnh lẽo và cứng như cao su. “Ôi, mẹ”, Tracy nghĩ thầm. “Tại sao?
Tại sao mẹ lại làm thế”“ “Chúng tôi phải mổ xét nghiệm tử thi”, tiếng người nhân viên giúp việc”, Đó là luật của Tiểu bang về những vụ tự sát”.
Bức thư của Doris Whitney để lại cũng không đưa ra câu trả lời nào.
Tracy con, Hãy tha thứ cho mẹ con nhé. Mẹ đa thất bại, và mẹ không chịu nổi việc trở thành gánh nặng đối với con. Đây là cách tốt nhất. Mẹ yêu con nhiều.
Bức thư, cũng giống như cái thi thể nằm trong ô kéo kia, không có sức sống và vô ý nghĩa.
Chiều hôm Đó Tracy thu xếp việc tang lễ mẹ rồi ngồi tắc xi về ngôi nhà của gia đình. Nàng có thể nghe thấy tiếng gào thét eủa những kẻ cuồng nhiệt vớl lễ MardiGrass từ xa vọng lại, xa lạ và ghê rợn.
Nơi ở của gia đình Whitney là một ngôi nhà kiểu Phục Hưng nằm trong Garden tại một khu dân cư được gọi là Khu Trên. Giống như phần lớn các ngôi nhà ở New Orleans, nó được làm bằng gỗ và không có tầng hầm bởi lẽ khu vực này thấp hơn mực nước biển.
Tracy đã lớn lên trong ngôi nhà này và có đầy những kỷ niệm ấm áp, thân thương. Cả năm ngoái nàng không về nhà lần nào và trước khi tắc xi từ từ dừng lại, nàng giật mình nhìn thấy một chiếc biển lớn cắm trên cỏ:
BÁN - CÔNG TY BẤT ĐỘNG SẢN NEW ORLEANS. Không thể thế được. Mẹ sẽ không bao giờ bán ngôi nhà thân yêu này, mẹ vẫn thường bảo vậy, chúng ta đã cùng sống hạnh phúc biết bao ở nơi đây.
Lòng đầy nỗi lo lạ lùng và vô lý, Tracy đi qua cây mộc lan lớn về phía cửa trước. Nàng đã được cho riêng một chìa khóa nhà từ khi học lớp bảy, và vẫn luôn mang theo người như một thứ bùa phép, một thứ phước lành.
Tracy mở cửa rồi đứng Đó, chết lặng. Các phòng đều trống trơn, không còn đồ đạe gì, tất eả những đồ cổ tuyệt đẹp đã biến mất. Nó giống như một nơi bỏ hoang. Tracy chạy từ phòng này sang phòng khác, sự ngờ vực mỗi lúc một tăng.
Dường rthư đã có một tai họa khủng khiếp giáng xuống. Nàng chạy lên lầu và dừng lại trước căn phòng ngủ nàng từng ở Đó phần lớn cuộc đờl. Nó như đang nhìn lại nàng, ghẻ lạnh và trống rỗng. Ôi, lạy Chúa, điều gì đã xảy ra vậy? Tracy nghe tiếng chuông gọi cửa và đi xuống cầu thang trong trạng thái nửa tỉnh nửa mê. Otto Schmidt đứng trước cửa. Quản đốc của công ty phụ tùng Otto Whitney là một người đàn ông đứng tuổi với khuôn mặt răn rúm và thân hình gầy ốm trừ cái bụng phệ ra vì bia. Đầu ông nhẵn thín, chỉ còn lưa thưa ít tóc xung quanh.
“Tracy” tiếng ông nặng giọng Đức, “Tôi mới nghe tin. Tôi ... tôi không biết nói với cô thế nào về nỗi buồn của mình”.
Tracy nắm lấy tay ông. “Ồ, bác Otto. Thật mừng là bác tới Mời bác vào”.
Nàng dẫn ông vào phòng khách. “Xin lỗi bác, chẳng còn gì để ngồi cả nàng ấp úng. Bác có bận lòng phải ngồi xuống sàn không?”.
“Không, không hề gì”.
Họ ngồi xuống, đối diện nhau, lặng đi vì sầu thảm. Otto Schmidt là nhân viên của công ty Whltney từ lâu lắm rồi. Tracy biết rõ cha nàng đã dựa vào bác thế nào. Khi mẹ nàng kế thừa cơ nghiệp, Sehmidt đã tiếp tục ở lại để điều hành công việc cho bà.
“Bác Otto, tôi không hiểu chuyện gì đã xảy ra nữa. Cảnh sát nói lằng mẹ đã tự sát, song bác biết đấy không có lý do gì cho việc Đó cả”. Một ý nghĩ chợt lóe lên trong đầu, “Bà không ốm chứ? Bà không gặp chuyện gì khủng khiếp ...”.
Không, không phải thế không phải. Ông nhìn lảng đi lúng túng có điều gì còn chưa được nói thành lời.
Tracy nói chậm rãi. “Bác biết, chuyện?”.
Ông nhìn nàng với cặp mắt xanh đục. “Mẹ cô đã giấu cô chuyện xảy ra gần đây. Bà không muốn cô phải lo lắng”.
Tracy cau mặt. “Sợ tôi lo lắng? Bác nói đi ... nào bác”. Bàn tay chai sạn vì lao động của ông nè ra rồi nắm lại.
“Cô đã bao giờ nghe về một người có tên là Joe Romano?”.
“Joe Romano? Không! Sao ạ?”.
“Sáu tháng trước đây, Romano liên hệ với mẹ cô, nói muốn mua lại công ty.
Bà bảo không muốn bán, song hắn đã hứa sẽ trả bà gấp mười lần trị giá của nó và bà đã không thể cứng lại. Bà quá hồi hộp. Bà định đầu tư toàn bộ số tiền vào mua trái phiếu và điều Đó sẽ mang lại một thu nhập đủ để bà và cô sống đầy đủ tới trót đời. Bà muốn làm cô ngạc nhiên. Tôi cũng mừng cho bà Tôi đã sẵn sàng nghỉ hưu trong suốt ba năm qua, cô ạ, song tôi không thể bỏ bà Doris mà đi, làm sao đi được cơ chứ? Gã Romano này ...” Otto suýt lỡ lời, “gã Romano này đặt trước một món tiền nhỏ. Khoản lớn còn lại ... khoản hứa bịp ... phải được trả hồi tháng trước”.
Tracy mất hết kiên nhẫn. “Nữả đi, bác Otto. Chuyện gì đã xảy ra?”.
“Khi Romano thay chân bà Doris, hắn đuổi tất cả và thay người của hắn vào nắm mọi việc. Rồi hắn bắt đầu cướp bóc công ty. Hắn bán tất cả tài sản và đặt mua nhiều thiết bị mà không trả tiền, rồi bán lại kiếm lời. Các nhà cung cấp không lo ngại về sự chậm trễ thanh toán vì nghĩ rằng họ vẫn đang giao dịch với mẹ cô. Sau cùng, khi họ đòi tiền từ mẹ cô, bà tới gặp Romano và muốn biết chuyện gì đang diễn ra. Hắn bảo không thực hiện giao kèo mua bán nữa và trả lại công ty cho bà. Khi Đó công ty chẳng còn gì đáng giá mà mẹ cô thì nợ nửa triệu đôla, khoản tiền mà không có khả năng trả. Cô Tracy, tôi và bà nhà tôi rầu rĩ tưởng chết đi được khi thấy mẹ cô vật lộn để cứu cái công ty Đó. Không còn lối thoát nào. Họ đã dồn bà tới chỗ phá sản. Họ cưỡng đoạt mọi thứ ... mọi tài sản, ngôi nhà này, thậm chí cả chiếc xe hơi của bà”.
“Ôr, lạy Chúa”.
“Còn nữa. Viên công tố quận đưa thông báo tới bà rằng ông ta sẽ yêu cầu truy tố bà về tội lừa đảo, rằng bà sẽ phải chịu một án tù. Tôi nghĩ bà thật ra đã chết từ hôm Đó”.
Tracy như sôi lên với một cơn giận dữ đầy vô vọng.
“Song tất cả những gì mẹ phải làm chỉ là nói lên sự thật, giải thích những gì gã kia đã làm đối với bà”.
Người quản đốe già lắc đầu. “Joe Romano làm việc cho một người tên là Anthony Orsatti, kẻ nắm cả cái New Orleans này. Tôi phát hiện quá muộn rằng Romano đã từng làm như thế với một số công ty khác. Ngay cả nếu như mẹ cô đưa được hắn ra tòa, thì cũng phải mất nhiều năm mọi thứ mới rõ ràng, và bà không thể đủ tiền mà theo kiện”.
“Tại sao mẹ không nói với tôi, hả bác?” Tracy kêu lên đau đớn, tiếng kêu thét vì sự thống khổ mà mẹ nàng phải chịu.
“Mẹ cô là một người đàn bà kiêu hãnh. Mà cô có thế làm gì được? Không ai có thể làm gì được”.
Bác sai rồi, Tracy quả quyết thầm nghĩ. “Tôi muốn gặp gã Romano. Tôi có thể kĩếm hắn ở đâu, bác?”.
Schmidt chán nản. “Quên hắn đi. Cô không biết hắn nhiều thế lực đến mức nào đâu”.
“Hắn sống ở đâu, bác Otto?”.
“Hắn có một dinh thự kế bên quảng trường Jacksón, song tới Đó cũng chẳng ích gì đâu, cô Tracy, hãy tin tôi”.
Tracy không trả lời. Trong nàng tràn đầy một thứ tình cảm xa lạ:
Lòng hận thù, Joe Romano sẽ phải trả món nợ giết mẹ mình, Tracy tự thề.


__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
JosephNulk (28-11-2014), psydayDrype (16-12-2015)
Old 25-08-2006, 02:32 PM   #2
Hồ sơ
foureyes
Senior Member
 
foureyes's Avatar
 
Tham gia ngày: Nov 2004
Số bài viết: 682
Tiền: 25
Thanks: 18
Thanked 243 Times in 156 Posts
foureyes is an unknown quantity at this point
Default

truyện này hay lắm, mình và mấy đứa bạn rất thích đọc truyện của nhà văn này. Ngoài ra, còn có những truyện khác như "Không có gì là mãi mãi","Hãy kể giấc mơ của em",....
__________________

foureyes is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 4 thành viên gửi lời cám ơn đến foureyes vì bạn đã đăng bài:
earlinelr11 (25-04-2016), jcobhirg19 (03-10-2015), Randallfemn (07-08-2014), Stevvinhith (26-04-2016)
Old 25-08-2006, 02:37 PM   #3
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 6</span>
Khu C có sáu mươi nữ tù, bốn người một phòng giam. Những khuôn mặt áp sát vào các song sắt để nhìn ra khi Tracy bị dẫn qua, mỗi mặt một vẻ, từ hờ hững đến thèm muốn, và cả căm ghét. Nàng đi bước thấp bước cao, như đang trên một mảnh đất lạ, trong một giấc mơ chập chờn. Cổ họng nàng khô đắng, một tiếng thét âm ỉ trong con người bị giam cầm của nàng. Giờ đây chẳng còn gì cả.
Chẳng còn gì cả, từ mỗi cái khả năng cay đắng là nàng sẽ bị lưu đày ở nơi này mười lăm năm trời.
Người nữ giám thị mở cửa một phòng giam. “Vào đi?”.
Tracy chớp mắt nhìn quanh. Trong phòng có ba nữ tù đang lặng lẽ nhìn nàng.
“Đi vào”, người giám thị quát.
Tiếng cửa đóng sầm sau lưng.
Nàng đã về nhà.
Căn phòng trơ trỏng bốn giường, một bàn nhỏ trên đó có cái gương đã rạn vỡ, bốn cái tủ nhỏ và một hố xí ở tít trong góc.
Mấy người đàn bà cùng phòng nhìn nàng chằm chặp. Người Puectô Ricô phá vỡ sự im lặng. “Chúng ta có một cô” bạn mới đây”. Giọng cô ta trầm và khản đặc. Có thể cô ta sẽ rất đẹp nếu như không có một vết sẹo xám ngoét chạy dài từ thái dương xuống tới tận cổ họng, và có vẻ như chưa đến mười bốn tuổi nếu như không nhìn vào cặp mắt cô ta.
Người Mehico béo lùn, trạc trung niên thì nói. “Thật hay là đã gặp nhau. Vì sao mà bị tống vào đây, cô bé?”.
Tracy đờ đẫn không đáp nổi.
Người thứ ba da đen. Chị ta cao phải tới mét tám, với cặp mắt mở hẹp đầy vẻ thận trọng và một khuôn mặt lạnh lùng. Đầu chị ta cạo trọc lốc, và trong ánh sáng yếu ớt của căn phòng, chỉ thấy nó xanh xanh. “Giường cô ở góc kia”.
Tracy đi tới bên giường. Chỉ có Chúa mới biết là trước đó đã có bao nhiêu người nằm trên tấm nệm dơ dáy và nhớp nhúa này. Nàng không dám đụng tới nó và dè dặt bày tỏ sự bất mãn của mình. “Tôi ... Tôi không thể nằm trên chiếc đệm này”.
Người Mêhico làu bàu. “Chẳng ai bắt, cô em ạ. Em có thể ngủ trên giường tôi”.
Đột nhiên, Tracy như cảm thấy trong phòng có những cơn sóng ngầm và nàng thấy sợ hãi. Ba người đàn bà Vẫn nhìn chằm chặp làm nàng có cảm giác bị lột trần ra. Súc thịt tươi Nàng chợt nhớ và càng sợ. Không phải thế, Tracy nghĩ, ôi, mong rằng không phải thế. Nàng chợt nghe thấy tiếng mình nói.“Tôi ... Tôi có thề gặp ai để xin một chiếc đệm sạch sẽ?”.
“Chúa ơi”, người da đen thốt lên. “Hắn đâu có ở quanh đây”.
Tracy nhìn xuống tấm đệm. Mấy con gián lớn đang bò ngang trên đó. Mình không thể ở lại đây” được. Tracy nghĩ mình sẽ phát điên lên mất.
Như đọc được trong ý nghĩ eủa nàng, người da đen nói, “Phải chấp nhận thôi, cô bé?”.
Tracy như nghe thấy tiếng nói của viên tổng giám thị:
lời khuyên tốt nhất mà tôi có thể nói với cô là hãy cô gắng giữ gìn ...
Người da đen tiếp tục, “Tôi là Ernestine Littlechap”.
Chị ta hất hàm về phí người có cái sẹo dài. “Đó là Lola. Cô ta từ Puectô Ricô tới và ả béo kia là Paulita, từ Mêhico. Còn cô là ai?”.
“Tôi là ... Tracy Whitney”. Chút nữa thì nàng đã nói, “Tôi nguyên là Tracy Whitney”. Có cảm giác như trong một cơn ác mộng rằng cái bản ngã của nàng đang bị mất đi. Đột nhiên thấy muốn ói, nàng vội túm chặt lấy thành giường.
“Tôi xin lỗi. Tôi cảm thấy không muốn nói chuyện”, Tracy dường như đứng không vững. Nàng gượng ngồi xuống mép giường, và đưa tay kéo gấu váy lau những giọt mồ hôi lạnh ngắt trên mặt. Đứa con mình, nàng nghĩ. Lẽ ra mình phải nói với ông tổng giám thị là mình đang mang thai. Ông ấy sẽ chuyển mình tới một phòng giam sạch sẽ. Có khi họ còn để mình có riêng một phòng ...
Nàng nghe bước chân dọc hành lang. Một nữ giám thị đi ngang qua, Tracy vội chạy ra cửa. “Xin lỗi bà”, nàng nói. “Tôi phải gặp ông tổng giám thị để ...”.
“Tôi sẽ phái ông ta xuống”, người đó ngoái lại nói.
“Bà không hiểu rồi. Tôi ...”.
Người đó đã đi khuất.
Tracy đưa vội mấy ngón tay lên miệng cắn chặt để khỏi kêu lên.
“Cô ốm hay sao, cô bé?” Lola hỏi.
Tracy chỉ lắc đầu. Nàng bước trở lại giường, ngó nhìn giây lát rồi từ từ nằm xuống. Đó là hành động tuyệt vọng, một sự đầu hàng. Nàng nhắm nghiền hai mắt.
Ngày sinh nhật lần thứ mười là một ngày vui sướng nhất trong tuổi thơ của nàng. Chiều nay cả nhà sẽ tới nhà hàng Antoine! Mc đã mặc cho nàng chiếc váy mới màu xanh tuyệt đẹp.
Trông hai mẹ con kìa”, cha cười rạng rỡ. “Tôi đang đi cùng hai người phụ nữ đẹp nhất New Orleans. Ai cũng sẽ phải ghen ty với tôi cho mà xem”.
Nhà hàng Antoine là tất cả những gì mà Tracy đã từng tưởng tượng, và còn hơn thế nữa. Hơn nhiều, Đó là nơi biên giới, tao nhã và được trang trí tuyệt hảo, với khăn trải bàn trắng toát và những bộ đồ ăn sáng bóng. Đây hẳn là một cung điện, Tracy nghĩ thầm. Mình chắc hẳn các nhà vua và các hoàng hậu cũng tới đây. Cô bé hân hoan tới độ quên cả ăn, chỉ mải ngắm nghía những người đàn ông, đàn bà ăn mặc tuyệt đẹp. Khi nào lớn lên, Tracy tự nhủ, tối nào mình cũng sẽ tới nhà hàng Antoine này, và mình sẽ đưa cả cha vả mẹ cùng đi.
“Con không ăn à, Tracy?” mẹ nhắc.
Và để làm hài lòng mẹ, Tracy phải cố nuốt vài miếng. Có một cái bánh dành cho nàng, trên đó có vài ngọn nến, và khi những người phục vụ hát bài Chúc mừng sinh nhật, những người khách khác quay cả lại và vỗ tay thì Tracy cảm thấy mình như một công chúa. Nàng nghe thấy cả tiếng chuông xe điện từ ngoài phố vọng vào.
Tiếng chuông réo lên giục giã.
“Giờ ăn”, Ernestine Littlechap kêu lên.
Tracy mở choàng mắt ra. Tiếng cửa đóng mỏ rầm rầm cả khu phòng giam.
Tracy nằm nguyên trên giường, cố níu kéo lấy các hình ảnh trong quá khứ.
“Này! đến giờ ăn rồi”, Lola nói.
Chỉ nghĩ tới thức ăn nàng đã thấy lợm giọng. “Tôi không đói”.
Paulita béo mập thất lên, “Này cô em. Thật đơn giản. Họ không quan tâm tới việc cô có đới hay không đâu. Tất cả phải tới phòng ăn”.
Các tù nhân đứng xếp thành hang ngoài hành lang.
“Tốt nhất là đứng dậy đi, nếu không họ sẽ quất vào mông ấy:”. Ernestine khuyến cáo.
Mình không đi nổi, Tracy nghĩ, mình sẽ ở lại đây. Các bạn tù của nàng đã rời khỏi buồng giam và đứng xếp vào hai hàng dọc.
Một nữ giám thị mập, thấp với mái tóc nhuộm vàng hoe trông thấy Tracy vẫn còn đang ở trên giường. “Cô kia”, bà ta hét.” “Không nghe thấy chuông à?
Ra ngay”.
Tracy đáp lai. “Tôi không thấy đói, cảm ơn bà. Cho tôi xin phép”. Bà giám thị trố mắt ngạc nhiên, đùng đùng bước tới chỗ Tracy. “Mày nghĩ mày là cái thá gì ở đây hả?
Đợi được phục vụ tại phòng chăng? Lê đít đứng vào hàng. Tao có thể, ghi sổ mày về việc này đấy. Nếu còn lặp lại thì mày sẽ phải vào xà lim. Hiểu chưa hả?”.
Nàng không hiểu. Nàng thực không hiểu cái gì đang diễn ra nữa, gượng nhổm lên khỏi giường và bước ra đứng vào hàng với đám phụ nữ. Cạnh nàng là người da đen cùng phòng. “Tại sao tôi ...?”.
“Câm đi!” Ernestine Littlechap rít qua khóe miệng.
“Không nói chuyện trong hàng”.
Họ được dẫn dọc một hành lang hẹp, ảm đạm, ngang qua hai cửa kiểm soát, tới phòng ăn lớn kê đầy những bàn ghế gỗ rồi xếp hàng tới bên một chiếc bàn dài ướt át, nơi đồ ăn đượe đưa ra. Các món ăn trong ngày thường là canh cá ngừ lõng bõng, món đậu quả sào mềm nhũn, món sữa trắng nhạt phèo và một trong hai thứ đồ ương là cà phê nhạt hoặc nước trái cây tổng hợp. Từng muỗng thức ăn được trút vào các da nhôm của tù nhân khi họ lần lượt đi ngang qua và những tù tự giác đứng phục vụ đằng sau cái bàn này thì luôn miệng kêu. “Nhanh lên nào. Tiếp theo ... Nhanh lên nào. Tiếp theo”. Sau khi lấy thức ăn, Tracy đứng ngỡ ngàng, không biết là phảĩ đi đâu. Nàng nhìn quanh tìm Ernestine Littlechap, nhưng người đàn bà da đen đã như biến mất. Tracy bước tới bên chiếc bàn mà Lola và Paulita đang ngồi ăn. Còn tới hai mươi người khác nữa cũng đang ngấu nghiến phần ăn của mình. Tracy nhìn ra thức ăn và đẩy nó ra, nàng lại lợm giọng thấy muốn ói.
Paulita với tay cầm lấy đa thức ăn của Tracy. “Nếu cô không ăn thì để cho tôi”.
Lola thì khuyên. “Này, phải ăn đi, không thì không sống nổi ở đây đâu”.
Mình không còn muốn sống, Tracy thầm tuyệt vọng.
Mình chỉ muốn chết đi. Sao những người đàn bà này lại có thể chấp nhận một cuộc sống như vậy được? Họ ở đây đã bao lâu không biết? Vài tháng rồi.
Hay vài năm? Nàng nghĩ tới cái phòng giam hôi thối và cái đệm giường đầy những rận, và nàng muốn hét lên đến mức phải nghiến chặt răng để nó khỏi bật thành tiếng.
Paulita đang nói. “Nếu họ bắt gặp cô không ăn, cô sẽ phải vào xà lim”. Chị ta nhận thấy vẻ không hiểu của Tracy. “Hầm giam riêng ấy mà. Cô sẽ không thích nó đâu” Chị ta dướn người lên phía trước. Lần đầu tiên vào đây phải không? Được, tôi sẽ mách nước cho cô, cô bé. Ernestine Littlechap cầm đầu ở đây. Hãy xử đẹp với chị ta và cô sẽ có lợi đấy”.
Ba mươi phút sau kể từ lúc vào phòng ăn, một hồi chuông reo vang và họ đứng dậy cả. Paulita cố chộp lấy một trái đậu sót lại ở da bên cạnh. Tracy đứng vào hang sau chị ta và họ được dẫn trở lại các phòng giam. Bữa ăn thế là xong.
Mới bốn giờ chiều - còn những năm giờ đồng hồ dài dằng dặc trước khi phải đi ngủ.
Khi Tracy về tới phòng, Ernestine Littlechap đã ở đó. Tracy nhìn cái toa lét ở góc phòng. Nàng đã muốn dung nó quá rồi, sống chẳng thể nào làm chuyện đó trước mấy người bạn tù. Nàng sẽ đợi cho đến khi tắt đèn đã.
Ernestme Littlechap nói. “Tôi biết rằng cô đã không ăn tí gì. Thật là ngu ngốc”.
Sao chị ta lại biết nhỉ” Và sao chị ta lại quan tâm tới mình? “Làm sao để có thể gặp ông tổng giám thị?” Tracy hỏi.
“Cô viết giấy yêu cầu Bọn gác sẽ dùng nó làm giấy chùi đít. Bọn nó coi bất kỳ con mẹ nào muốn gặp” tổng giám thị đều là những kẻ gây rối”. Chị ta bước tới bên Tracy. “Ở dây có rất nhiều thứ có thể đẩy cô vào chỗ rắc rối. Cái mà cô cần là một người bạn và người đó có thể giúp cô tránh dính vào những rắc rối đó”. Chị ta mỉm cười “để lộ một chiếc răng cửa bịt vàng. Giọng chị ta mềm mại, “có người biết lối phải đi quanh một chuồng thú”.
Tracy ngước nhìn khuôn mặt nhăn nhở của người đàn bà da đen. Nó như bập bềnh đâu đó sát tận trần nhà.
Nó là một thứ gì đó cao nhất mà Tracy từng nhìn thấy.
Đó là một con hươu cao cổ, cha nàng nói.
Họ đang thăm vườn thú trong công viên Audubon. Tracy rất thích công viên nảy. Vào các chủ nhật, họ thường tới đó nghe các bạn nhạc biểu diễn và sau đó cha mẹ đưa nàng tới xem khu nuôi cá cảnh hoặc khu chuồng thú. Cả nhà đi chậm rãi, ngắm nhìn các con thú trong chuồng.
Chúng nó không ghét việc bị nhồi vậy à, bố?”.
Cha nàng cười vang.” “Không, Tracy à. Chúng có một cuộc sống tuyệt vời.
Chúng được chăm sóc và cho ăn uống, và kẻ thù của chúng thì không thể tới gần”?
Song với Tracy, trông chúng có vẻ buồn bã. Nàng chỉ muốn mở toang các cửa chuồng để chúng ra. Mình thì chẳng bao giờ muốn bị nhốt giống thế kia, Tracy thầm nghĩ.
Tám giờ 45, tiếng chuông báo reo vang cả nhà tù. Ba người cùng phòng bắt đầu cởi quần áo. Tracy vẫn ngồi yên.
Lola nói với nàng, “Chỉ có mười lăm phút cho việc chuẩn bị đi ngủ thôi đấy”.
Những người đàn bà cởi tuột váy áo và khoác váy ngủ lên người. Bà giám thị có mái tóc nhuộm vàng hoe đi ngang phòng giam và dừng lại khi trông thấy Tracy nằm trên giường.
“Thay đờ ra”. Bà ta ra lệnh và quay sang Ernestine hỏi. “Chị không bảo cho cô ta biết à?”.
“Có chứ. Chúng tôi đã nói”.
Bà giám thị quay lại Tracy. “Chúng tôi có cách cư xử với những kẻ gây rối đấy”. Bà ta, cảnh cáo, “Cô làm theo lời người ta bảo, nếu không tôi sẽ quất vào mông cho xem”. Nói rồi bà ta bỏ đi.
Paulita thì thào. “Tốt nhất là nghe lời bà ta, cô bé ạ. Mụ Váy Sắt ấy là một con chó đê tiện.
Tracy chậm chạp nhỏm dậy và bắt đầu ca. Đồ, quay lưng về phía mấy người đàn bà kia! Nàng cởi tất cả váy áo” chỉ trừ cái xilip và choàng vội cái váy ngủ thô ráp qua đầu” cảm thấy những cặp mắt đang dán lên thân thể mình.
“Cô có tấm thân thật đẹp”, Paulita nhận xét.
“Ừ, đẹp thật”. Lola lặp lại.
Tracy cảm thấy rùng mình.
Ernestine đi tới bên và nhìn Tracy. “Chúng ta là bạn của nhau. Chúng ta sẽ chăm lo em chu đáo”. Giọng chị ta khản đặc vì bị kích động.
Tracy quay mình đi. “Hãy để tôi yên? Tất cả các chị.
Tôi ... tôi không phải kiểu đó”.
Người đàn bà da đen cười khoái trá. “Em sẽ làm theo kiểu bọn ta thích, cô bé ạ”.
“Còn thời gian. Còn rất nhiều thời gian”. Lola nói.
Ánh đèn vụt tắt.
Bóng tối là kẻ thù của Tracy. Nàng ngồi trên mép giường, toàn thân căng thẳng, cảm giác rằng mấy kẻ kìa đang chờ để nhảy xổ vào nàng. Hay chỉ vì sợ quá mà nàng tưởng tượng ra như thế. Nàng thấy mệt mỏi rã rời vì dường như mọi thứ quanh nàng đều có thể là một sự đe dọa. Họ có thể đe dọa nàng không?
Chưa hẳn. Có thể là hộ chỉ muốn tỏ ra thân mật còn nàng thì đã gán cho những cử chỉ ấy những ý nghĩ xấu xa. Nàng đã được đọc về những hành động đồng tính luyến ái trong nhà tù, song cái đó chắc chỉ là hãn hữu chứ không phải phổ biến. Hành động như thế ở trong nhà tù là không được phép.
Tuy vậy, nàng vẫn bị nỗi nghi ngờ ám ảnh và quyết định sẽ thức suốt đêm.
Nếu một trong số họ có hành động gì thì nàng sẽ kêu cứu ngay và trách nhiệm của những người gác là không được để xảy ra chuyện xấu. Nàng thầm tự nhủ là chẳng có chuyện gì phải lo ngại cả nếu như tỉnh ngủ một chút.
Tracy ngồi trên giường, trong bóng tối, lắng nghe mọi tiếng động. Nàng thấy ba người đàn bà lần lượt đi ra hố xí trong góc phòng rồi trở về giường của họ.
Khi không thể chịu hơn nữa, Tracy gượng dậy, và lần tới đó. Rồi nàng định giật nước, song không được. Mùi hôi thối hầu như không chịu đựng nổi. Nàng vội vã trở lại giường và ngồi xuống. Trời sắp sáng thôi mà, nàng thầm nghĩ. Sáng mai mình sẽ yêu cầu gặp ông tổng giám thị. Mình sẽ nói với ông ta về đứa con trong bụng. Ông ta sẽ cho mình được chuyển tới một phòng khác.
Tracy thấy quá căng thẳng và mệt mỏi. Nàng ngả lưng xuống giường và chỉ vài giây sau đã cảm thấy có con gì bò qua cổ. Nàng cố gắng để khỏi hét lên vì sợ hãi. Mình phải chịu đựng tới sáng. Sáng ra mọi thứ sẽ ổn thỏa, Tracy thầm nghĩ. Cố một chút.
Ba giờ sáng, nàng không thể nào gượng lại cơn buồn ngủ, và thiếp đi.
Tracy chợt tỉnh giấc khi một bàn tay ai đó bít ngay miệng nàng, và hai bàn tay khác sờ nắn hai bầu vú. Nàng kêu lên mà không nổi, cảm thấy cái váy ngủ và đồ lót bị lột ra khỏi thân thể. Những bàn tay luồn vào giữa cặp đùi nàng, kéo hai chân nàng dang ra. Tracy điên cuồng đấm đạp và cố nhỏm dậy.
“Nào, hãy nhẹ nhàng”, một giọng nói thì thào, “Em sẽ không đau đớn gì”.
Tracy co chân đạp vào nơi có tiếng nói ấy. Chân nàng đụng vào ai đó ...!
“Con c ...! Quẳng nó cho chó”, giọng nói đó hổn hển.
“Kéo nó xuống sàn”.
Một quả đấm giáng vào mặt Tracy, một quả nữa vào bụng nàng. Ai đó cưỡi lên trên người nàng ghìm chặt nàng xuống sàn nhà trong lúc những bàn tay dâm đãng sục sạo trên thân thể nàng.
Tracy vùng ra được trong khoảnh khắc, nhưng một kẻ trong bọn kia đã túm được nàng và đập đầu nàng vào những song sắt. Nàng thấy máu ộc ra từ mũi mình. Rồi nàng lại bị ấn nằm xuống sàn bê tông, tay và chân bị giữ chặt. Tracy chống trả điên cuồng, song không thể lại với ba mụ đàn bà kia. Những bàn tay lạnh toát và những cái lưỡi nóng hổi vuốt ve trên khắp thân thể nàng. Hai chân nàng bị dang “rộng ra và một vật gì đó cứng và lạnh ngắt nhét vào trong nàng.
Nàng quằn quại một cách bất lực và cố la lên. Một cánh tay đang trườn qua miệng nàng và nàng cắn ngập răng vào đó bằng tất cả sức lực còn lại.
Một tiếng thét lên. “Đồ con đĩ”.
Những cú đấm giáng xuống mặt ... Nàng đau đớn quằn quại và sau cùng thì không còn cảm giác gì nữa.
Tiếng chuông reo lên đã làm nàng tỉnh lại. Nàng đang nằm trên sàn bê tông lạnh ngắt trong phòng giam, thân thể trần truồng. Ba người kia đang ở trên giường của họ.
Ngoài hành lang, mụ váy sắt đang hò hét, “Dậy nào” Khi đi ngang qua, mụ ta nhìn thấy Tracy đang nằm trên sàn trong một vũng máu nhỏ, gương mặt trắng bệch xây xát và một mắt sưng húp.
“Quỷ quái gì thế này?” Mụ mở cửa phòng giam và bước vào.
“Chắc cô ta ngã từ trên giường xuống”. Ernestine Littlechap đon đả.
Mụ giám thị bước tới bên Tracy và đá vào chân cô. “Cô này, dậy”.
Tracy thoáng nghe. Phải, nàng nghĩ, mình phải dậy, mình phải ra khỏi chốn này. Nhưng nàng không nhúc nhích nổi. Toàn thân đau đớn.
Mụ giám thị tóm lấy khuỷu tay Tracy và kéo ngồi dậy, nàng suýt ngất đi vì đau.
“Chuyện gì xảy ra hả?”.
Bằng một con mắt lành, Tracy thấy ba cái bóng lờ mờ đang lặng lẽ chờ câu trả lời của nàng.
“Tôi ... tôi”. Tracy cố nói không thành tiếng. Nàng gắng sức và một bản năng nào đó đã làm cô buột miệng. “Tôi ngã từ trên giường xuống”.
Mụ giám thị cáu kỉnh. “Tao ghét cái thứ õng ẹo này. Tao sẽ cho mày vào xà lim để học lấy ít lễ độ”.
Mọi thứ như bị lãng quên, Tracy trở lại trong bụng mẹ. Một mình nàng trong bóng tối dày đặc, không có một thứ đồ đạc gì trong căn hầm tù túng này trừ một tấm đệm cũ nát trên sàn xi măng lạnh lẽo. Nơi đi cầu là một lỗ trống hôi thối ngay trên sàn nhà. Tracy nằm đó, trong bóng tối đen đặc lẩm nhẩm những bài dân ca mà cha và mẹ đã dạy từ thuở xa xưa. Nàng không hề biết rằng mình đang kề sát tình trạng mất trí.
Nàng cũng không biết rằng mình đang ở đâu, điều đó chẳng hề gì, chỉ thấy toàn thân đau nhức. Chắc là mình ngã đau, nhưng đã có mẹ chăm sóc. Nàng chợt hét lên giọng lạc đi, “Mẹ ơi ...” và khi không có ai trả lời nàng lại ngủ thiếp đi.
Nàng ngủ liền 48 giờ đồng hồ và những vết đau chỉ thấy còn nhức nhối khi tĩnh lại. Nàng mở to hai mắt. Xung quanh chẳng có gì cả. Tối đến mức thậm chí không thể nhìn thấy hình dáng căn hầm. Trí nhớ chợt ùa trở lại. Họ khiêng nàng tới chỗ lão bác sĩ. Nàng còn nghe được tiếng hắn ta:
“ ... một xương sườn và xương cổ tay gãy. Chúng tôi sẽ bó nó lại ... những vết thương và những vết bầm thật khủng khiếp song rồi nó cũng sẽ lành thôi. Cô ta đã sẩy thai ...”.
“Ôi, con tôi”. Tracy thì thầm. “Chúng đã giết con tôi rồi”.
Và nàng nức nở. Nàng khóc vì mất con. Nàng khóc cho bản thân nàng. Nàng khóc cho cả cái thế giới khủng khiếp này.
Nằm trên tấm đệm mỏng, trong màn đêm giá lạnh lòng nàng chồng chất căm hờn, toàn thân cô run lên. Những ý nghĩ trong nàng bừng lên, cháy bỏng và rồi dần dần mất hết đi, chỉ còn lại mong muốn duy nhất:
Báo thù? Song không phải báo thù mấy mụ đàn bà cùng phòng giam. Họ cũng như nàng, chỉ là nạn nhân mà thôi. Không, sẽ báo thù những thằng đàn ông đã đẩy nàng tới chốn này, những kẻ đã phá hoại đời nàng.
Joe Romano:
“Con mẹ già mày vẫn chưa nói hết. Mụ ta đã không bao giờ bảo tao rằng mụ có một đứa con gái coi bộ thật khêu gợi ...
“Joe Romano làm công cho một người tên là Anthony Orsatti. Lão Orsatti nắm cả cái New Orleans này ...
Perry Pope:
“Bằng việc nhận tội, cô sẽ giúp nhà nước tiết kiệm khoản án phí”.
Thẩm phán Henry Lawrence:
“Bởi vì trong mười lăm năm tới ngươi sẽ bị giam trong nhà tù nữNam Loisiana ...
Đó là những, kẻ thù của nàng. Và còn Charles, người thậm chí không,thèm nghe nàng nói nữa:
“Ồ Nếu em cần tiền đến thê, em phải thảo luận với tôi chứ.
.. Rõ ràng là tôi chưa bao giờ biết em cả ... Cô sẽ phải làm điều gì mà cô cho là tốt nhất đối với đứa con của cô ...”.
Nàng sẽ bắt chúng đền tội. Tất cả bọn chúng. Nàng không biết phải làm thế nào. Song nàng biết chắc là nàng sẽ trả thù được. Ngày mai, nàng thầm nghĩ, nếu còn có ngày mai.


<span style=\'color:red\'>Chương 7

Thời gian đã mất hết ý nghĩa của nó. Không hề có tí ánh sáng trong gian hầm, bởi vậy cũng chẳng có ngày và đêm, và Tracy không hề biết mình đã bị giam riêng thế này bao lâu rồi. Từng bữa, đồ ăn nguội lạnh được đấy vào qua một cái khe dưới cánh cửa. Tracy chán không thiết ăn nhưng tự buộc mình phảl ăn hết nhẵn khẩu phần. “Cô phải ăn, nếu không thì không sống nổi ở đây đâu”.
Giờ đây nàng đã hiểu điều đó, đã biết rõ rằng để làm được những gì dự tính thì sức khỏe là rất cần thiết. Nàng đang ở trong một hoàn cảnh mà ai cũng sẽ phải coi là vô vọng. Bị giam cầm trong mười lăm năm, không tiền bạc, không bạn bè, không gì hết. Thế nhưng có một nguồn sức mạnh tiềm tàng trong nàng.
Mình sẽ sống sót, Tracy nghĩ. Tay không đối mặt với kẻ thù, vũ khí của mình chỉ là long dũng cảm. Nàng sẽ tồn tại như tổ tiên nàng từng tồn tại. Dòng máu trong nàng là “sự pha tạp giữa dòng máu Anh, dòng máu Ireland và dòng máu Ecosse, và nàng đã thừa hưởng những gì tinh túy nhất của cha ông, trí thông minh, lòng dũng cảm và ý chí kiên cường. Tổ tiên mình đã sống sót qua những nạn đói và dịch bệnh, lũ lụt, và nàng cũng sẻ sống sót mà ra khỏi chốn tù đầy này. Tố tiên nàng, những người chăn cừu và những người thợ săn, những nông dân và những chủ hiệu, những bác sĩ và những giáo sư giờ đây như cùng sống với nàng trong căn hầm tăm tối này. Tất cả hình bóng quá khứ như đều có phần nào đó trong người nàng. Con sẽ không để ông cha phải thất vọng, Tracy thầm thì trong bóng tối.
Nàng bắt đầu có ý đồ vượt ngục.
Tracy biết rằng điều cần làm trước tiên là phải khôi phục sức khỏe. Với các bài tập khác thì căn hầm này quá tù túng, song nó đủ rộng cho môn Thái eựe quyền, môn võ thuật có lịch sử nhiều thế kỷ. Các bài tập của nó không đòi hỏi một không gian lớn và tất cả các cơ bắp trong thân thể đều phải được dùng tới.
Tracy đứng dậy và bắt đầu những động tác đầu tiên. Mỗi động tác đều có tên gọi riêng và có một ý nghĩa của nó. Nàng bắt đầu với thế Trừ yêu, rồi chuyển sang thế Tụ quan. Các động tác đều mềm mại, than.h thoát và được thực hiện rất chậm rãi. Mỗi động tác đều xuất phát từ sự tĩnh tâm, sự cân bằng tâm lý, và tất cả là một vòng khép kín. Nàng như nghe thấy lời ông thầy dạy võ:
Đề khí, tập trung năng lượng. Hãy khởi đầu động tác sao cho nặng như núi và rồi trở nên nhẹ như lông hồng. Tracy cảm thấy dòng khí lực tràn tới từng đầu ngón tay và nàng tập trung đến độ toàn bộ cơ thể như nhẹ lâng lâng, siêu thoát.
Phải mất một tiếng để thực hiện hết toàn bộ bài tập, và khi kết thúc thì Tracy cũng thở dốc, kiệt sức. Ngày hai lần, sáng và chiều Tracy tập luyện đều đặn và dần dần cơ thể trở nên linh hoạt và mạnh mẽ.
Khi không tập luyện thể lực, Tracy rèn luyện trí não. Nằm yên lặng trong bóng tối, nàng nhẩm làm những phép tính phức tạp, hình dung việc điều khiển chiếc máy tính tại nhà băng, ngâm lại những đoạn thơ và hồi tưởng những vai kịch đã diễn hồi ở trường đại học. Hồi ấy, khi nhận đóng một vai kịch sẽ phải nói bằng nhiều âm giọng khác nhau, nàng đã tập dượt về ngữ âm, trọng âm hang tuần lễ liền. Rồi có một đạo diễn tài năng đã tìm tới nàng và đề nghị đến Holywood đóng phim thử. Nhưng nàng đã từ chối. “Không đâu, xin cảm ơn.
Tôi không thích ánh sáng đèn pha. Đó không phải chỗ dành cho tôi”.
Đột nhiên nàng lại như nghe thấy tiếng của Charles Tin về em được đăng bằng tít lớn trên tờ báo sáng nay.
Tracy cố xua đuổi hình ảnh Charles. Giờ đây, trong đầu óc nàng có những cánh cửa phải được đóng chặt.
Nàng chỉ tập trung vào việc nghĩ xem làm thế nào để có thể thanh toán lần lượt từng kẻ thù. Nàng nhớ tới một trò chơi thời trẻ con - giơ một bàn tay lên và có thể che khuất được cả mặt trời. Đó là điều họ đã làm đối với nàng. Chúng giơ một bàn tay lên và làm hại cả cuộc đời nàng.
Tới ngày thứ bẩy, cửa căn hầm giam bật mở và ánh sáng đột ngột tràn vào làm Tracy tối sầm mắt mũi. Một người gác ở bên ngoài kêu, “Đứng dậy, cô được trở lại phòng”.
Anh ta với xuống đưa tay đỡ Tracy và đã phải ngạc nhiên - nàng đứng dậy dễ dàng và bước lên khỏi hầm giam một cách bình thường. Những người tù khác mà anh ta từng đưa ra khỏi xà lim này thì hoặc là sụp đổ hoàn toàn hoặc là câng câng thách thức, thế nhưng người tù này không thế ở nàng toát ra lòng tự trọng và vẻ tự tin - một điều xa lạ đối với nơi đây. Tracy đứng yên một lát để cho mắt quen dần với ánh sáng. Con bé trông ngon lành quá, người gác thầm nghĩ. Cho cô ta tắm rửa sạch sẽ rồi thì có thể mang đi bất kỳ đâu. Mình đánh cược rằng, cô ta sẽ làm bất kỳ điều gì để đổi lấy một chút xíu ân huệ.
Anh ta nói lớn. “Một cô gái xinh đẹp như em không ráng phải chịu cảnh thế này. Nếu ta làm bạn của nhau, tòi sẽ lo để chuyện này không bao giờ xảy đến với em nữa”.
Tracy quay lại đối mặt với anh ta và khi nhìn ánh mắt nàng, anh ta vội vã từ bỏ ý định gạ gẫm.
Người gác dẫn nàng lên tầng trên và giao lại cho một nữ giám thị.
Mụ nữ giám thị hít hít rồi kêu lên, “Lạy Chúa, cô hôi hám quá. Vào tắm đi.
Bọn ta sẽ đốt bỏ những quần áo đó”.
Dòng nước lạnh thật tuyệt vời. Tracy gội đầu và kỳ cọ với một miếng xà bông giặt.
Khi nàng lau khô người và mặc bộ đồ khác, người giám thị đã chờ sẵn. “Ông tổng giám thị muốn gặp cô”.
Lần trước khi nghe câu này, nàng đã tin răng nó mang đến cho mình tự do.
Chẳng bao giờ nàng lại còn ngây thơ như thế nữa.
Tổng giám thị Brannigan đang đứng bên cửa sổ nhìn ra ngoài thì Tracy bước vào:
Ông ta quay lại và nói. “Xin mời cô ngồi”. Tracy ngồi xuống một chiếc ghế tựa. “Mới rồi tôi đi Washington dự một hội nghị. Tôi vừa về ság nay và đã xem báo cáo về chuyện xảy ra. Lẽ ra không được glam cô vào xà lim”.
Ông ta nói.
Nàng nhìn ông ta, gương mặt thản nhiên.
Tổng giám thị nhìn xuống một tờ giấy để trên bàn. “Theo bản báo cáo này thì cô đã bị mấy tù nhân cùng buồng cưỡng dâm”.
“Thưa ngài, không”.
Ông ta gật gật đầu thông cảm. “Tôi hiểu nỗi lo sợ của cô, nhưng tôi không cho phép tù nhân điều hành nhà tù này. Tôi muốn trừng phạt những kẻ đã làm chuyện này đối với cô song tôi cần lời chứng của cô, Tôi sẽ lo liệu để cô được bảo vệ. Bây giờ, tôi muốn cô kể lại thật đúng sự việc xảy ra và ai là kẻ phải chịu trách nhiệm”.
Tracy nhìn thẳng vào mắt ông ta. Tôi ngã từ trên giường xuống”.
Ông tổng giám thị chăm chú nhìn Tracy hồi lâu và nàng có thể thấy rõ vẻ thất vọng trên gương mặt ông. “Cô hoàn toàn chắc vậy chứ?”.
“Thưa ngài, vâng”.
“Cô không thay đổi ý kiến chứ?”.
“Không, thưa ngài”.
Tổng giám thị Brannigan thở dài. “Được thôi. Đó là quyền của cô. Tôi sẽ chuyển cô tới một phòng giam khác, nơi ...”.
“Tôi không muốn chuyển đi”.
Ông ta ngạc nhiên. “Có nghĩa là cô muốn trở lại cái buồng giam đó?”.
“Ô Thưa ngài vung túng. Có thể ông ta đã nghĩ nhầm về cô gái này chăng, có thể chính cô ta đã gây nên chuyện. Có trời mà biết những nữ tù nhân quỷ quái này nghĩ hay làm gì. Ông thám mong được chuyến tới một nhà giam nam không có những kẻ tâm thần, song vợ ông và Amy, đứa con gái bé bỏng của ông, lại thích ở đây. Họ sống trong một ngôi nhà đáng yêu và lại còn có những:
vườn cây xinh đẹp quanh khu đất trồng trọt của nhà tù nữ. Đối với hai mẹ con, thì họ cứ như được sống ở nơi thôn dã ấy, nhưng còn ông thì phải đương đầu với đám đàn bà điến rồ này 24 giờ đồng hồ mỗi ngày.
Ống nhìn người đàn bà trẻ ngồi trước mặt và vụng về nói, “Rất tốt. Trong tương lai thì hãy tránh dính vào những vụ rắc rối”.
“Thưa ngài, vâng!”.
Trở về buồng giam quả là một việc khó khăn nhất đối với Tracy. Vừa mới bước chân vào, nàng lập tức sợ hãi nghĩ tới chuyện đã xảy ra nơi đây. Mấy người kia đang đi làm việc. Tracy nằm xuống giường, nhìn đăm đăm lên trần và toan tính. Sau cùng, nàng với xuống gầm giường và nạy ra một thanh sắt, giấu nó xuống dưới đệm giường mình 11 giờ, chuông báo giờ ăn trưa và Tracy là người đầu tiên đứng vào hàng.
Trong phòng ăn, Paulita và Lola ngồi ở cái bàn kề bên lối ra vào. Không hề thấy bóng Ernestine Littlechap.
Tracy chọn một bàn ăn toàn những người lạ, ngồi vào và ăn hết sạch bữa cơm vô vị. Cả buổi chiều nàng ở trong phòng giam một mình. 2 giờ 45, ba người kia mới bước vào.
Paulita ríu rít với vẻ ngạc nhiên khi trông thấy Tracy. “Cô trở lại với bọn ta à, con mèo xinh đẹp. Cô thích cái mà bọn ta làm với cô chứ?”.
“Tốt. Bọn ta sẽ lại cho em nữa”. Lola nới.
Tracy làm như không nghe thấy những lời lẽ bẩn thỉu đó Nàng chú ý tới người đàn bà da đen. Chính là vì Ernestine Littlechap mà Tracy đã trở lại buồng giam này. Tracy không tin gì chị ta. Không một phút giây nào. Nhưng nàng cần đến chị ta.
Tôi sẽ mách nước cho cô, cô bé. Ernestine Littlechap cầm đầu ở đây ...”.
Đêm tới, khi hồi chuông réo vang báo hiệu còn mười lăm phút là tới giờ tắt đèn đi ngủ, Tracy nhổm dậy và bắt đầu cởi váy áo Lần này thì không việc gì phải dè dặt vô ích nữa. Nàng trút bỏ đồ và người đàn bà Mêhico như rên lên khi được ngắm cặp Vú tròn Căng, chắc nịch, đôi chân thon dài và bộ đùi nuột nà của Tracy. Lola thì thở gấp gáp Bình thản, Tracy mặc lên người chiếc váy ngủ và ngả lưng xuống giường. Ánh điện vụt tắt. Phòng giam chìm trong bóng tối.
Ba mươi phút đã trôi qua. Tracy nằm yên lặng,” lắng nghe hơi thở của ba người kia.
Tiếng Paulita thì thào vẳng sang:
“Đêm nay, ta sẽ cho em biết thế nào là tình yêu thực sự. Cởi váy ra, cô bé”.
“Bọn ta sẽ dạy cách liếm láp con mèo nhỏ chỗ đó, và em sẽ làm cho đến khi biết cách chơi”. Lola vừa nói vừa cười khúc khích.
Người đàn bà da đen vẫn chẳng hé một lời nào. Tracy đoán biết ngay khi Lola và Paulita mò mẫm tới, và nàng đã sẵn sàng. Nàng nâng thanh sắt đã giấu bên và dồn hết sức phang đúng mặt một trong hai người đàn bà. Một tiếng kêu thét đau đớn, cùng lúc, Tracy co chân đá mạnh vào bóng người kia và trông thấy ả ngã lăn xuống sàn.
“Còn lại gần tôi nữa thì chết đấy”, Tracy nói sõng.
“Đồ chó”.
Tracy lại nghe thấy tiếng bước chân họ lại gần, và nàng giơ cao thanh sắt.
Tiếng Ernestine bỗng vang lên trong bóng tối. “Thế là đ
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
cdjtrkai83 (13-06-2014), psydayDrype (27-09-2015)
Old 25-08-2006, 02:52 PM   #4
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
<span style=\'color:red\'>Chương 10
"Ngày mai, em mất cô bảo mẫu rồi”. Tổng giám thị Brannigan thông báo cho vợ.
Sue Ellen Brannigan ngước nhìn chồng, ngạc nhiên. “Sao? Judy rất tốt với Amy”.
“Anh biết, song mai Judy sẽ được trả tự do”.
Họ đang ăn sáng trong ngôi nhà tiện nghi. Một trong số những đặc lợi của nghề nghiệp Brannigan. Những quyền lợi khác gồm có một đầu bếp, một cô hầu phòng, một tài xế riêng, và một bảo mẫu cho con gái họ, Amy, gần năm tuổi.
Năm năm trước, khi mới đến đây, Sue Ellen Brannigan rất lo sợ về việc phải sống trong khu vực nhà tù và còn sợ hãi hơn nữa khi trong nhà đầy những người phục vụ vốn đều là các tội phạm đang bị giam cầm.
“Làm sao anh có thể dám chắc rằng nửa đêm chúng không cướp bóc hoặc cắt cổ chúng ta?” Bà căn vặn chồng.
“Nếu làm như vậy họ sẽ chết với tôi”, tổng giám thị Brannigan hứa hẹn.
Ông làm bà hết sợ nhưng không làm bà tin được, tuy vậy những lo ngại của Sue Ellen đã tỏ ra không có cơ sở.
Những người tù tự giác mong muốn tạo được ấn tượng tốt hòng rút ngắn thời hạn giam giữ của họ càng nhiều càng hay nên đã hết sức lương thiện.
“Em vừa mới yên tâm khi giao Amy cho Judy chăm sóc”, bà vợ phàn nàn.
Bà mong muốn những điều tốt đẹp cho Judy song lại không muốn cô ta ra đi. Ai mà biết kẻ trông nom Amy sắp tới là loại người gì? Có quá nhiều câu chuyện khủng khiếp về những chuyện bẩn thỉu mà những người lạ đã làm đối với trẻ con.
“Anh đã nghĩ tới ai thay cho Judy chưa?”.
Ông tổng giám thị đã cân nhắc kỹ điều này. Có cả chục tù tự giác thích hợp với việc trông nom Amy, song ông không thể dứt bỏ Tracy khỏi đầu óc mình.
Có cái gì đó trong vụ án của cô ta làm ông thấy áy náy. Là một nhà tội phạm từ mười lăm năm nay, ông tự hào về một trong những điểm mạnh của mình là khả năng đánh giá tù nhân. Một số do ông cai quản là những tội phạm chuyên nghiệp, một số khác phải vào tù vì đã phạm tội do quá kích động hay không cưỡng lại dược một ham muốn nhất thời nào đó, song ông thấy Tracy có vẻ không thuộc vào những loại đó. Lời kêu oan của cô ta không ảnh hưởng gì mấy đến suy nghĩ của ông vì rằng đó là những lời cửa miệng của mọi tù nhân. Điều làm ông áy náy chính là những kẻ đã hùa nhau đẩy Tracy Whitney vào tù. Ông vốn được bổ nhiệm bởi một hội đồng dân cử do thống đốc bang đứng đầu, và mặc dầu kiên quyết từ chối dính líu tới các vấn đề chính trị, ông vẫn biết rõ nhiều nhân vật. Joe Romano là Mafta, tay chân Anthony Orsatti, Perry Pope, luật sư bào chữa cho Tracy Whitney, được bọn chứng trả tiền và thẩm phán Henry Lawrence cũng vậy. Bản án Tracy Whitney lại càng thêm biểu hiện đáng nghi vấn.
Lúc này, Tổng giám thị Brannigan đã quyết. Ông nói với vợ “Rồi. Tôi đã nghĩ đến một người”.
Trong khu bếp của nhà tù có một phòng hẹp với một bàn ăn nhỏ, và bốn cái ghế tựa, nơi duy nhất có thể có một chút riêng biệt. Ernestlne Littlechap và Tracy đang ngồi trong đó uống cà phê nhân mười phút nghỉ giải lao.
“Tôi nghĩ đã đến lúc cô nói với tôi vì sao vội vã muốn ra khỏi đây thế”.
Ernestine bảo.
Tracy lưỡng lự. Nàng có thể tin Ernestine chăng?
Cũng chẳng có lựa chọn nào khác. “Có ... có mấy người đã làm hại gia đình tôi và tôi. Tôi phải ra để bắt chúng đền tội”.
À? Chúng đã làm gì?
Tracy nới chậm rãi từng lời, mỗi lời mỗi đau đớn.
“Chúng giết mẹ tôi”.
“Chúng là ai?”.
“Tôi không cho những cái tên đó có ý nghĩa gì với chị cả. Joe Romano, Pepy Pope, một thẩm phán tên Henry Lawrence, Anthony Orsatti”.
Miệng há ra, Ernestine nhìn nàng chằm chằm. “Lạy Chúa! Cô làm tôi sửng sốt, cô bé ạ”.
Tracy ngạc nhiên. “Chị có nghe về chúng nó à?”.
“Tôi nghe? Ai chẳng nghe về chúng nó? Chả cớ gì diễn ra ở cái xứ New Orleans bỏ mẹ này mà không có sự dính líu của Orsatti hay Romano. Cô không thể đụng tới bọn đó Chúng nó sẽ thổi bay cô đi”.
Giọng Tracy trầm xuống. “Thì chúng nó đã làm vậy rồi thôi”.
Ernestine nhìn quanh để cầm chắc không có ai nghe trộm. “Hoặc là cô điên rồ hoặc cô là con đàn bà ghê gớm nhất mà tôi từng biết. Dám nói tới những kẻ không thể đụng tới đó!” Chị ta lắc đầu. “Quên nhanh chúng đi”.
“Không. Tôi không thể. Tôi phải trốn khỏi đây. Liệu có được không?”.
Ernestine im lặng hồi lâu. Sau cùng, chị ta bảo. “Ta sẽ nói chuyện ở ngoài sân”.
Chị ta dẫn nàng tới một chỗ vắng vẻ.
“Đã có mười hai vụ vượt ngục a nhà tù này”, Ernestine nồi. “Hai trong số đó bị bắn chết. Mười người khác bị bắt và bị đưa trở lại”. Tracy không bình luận gì. “Trên tháp canh có lính gác suốt hai mươi bốn giờ, với súng máy, và đó là lũ chó đẻ đê hèn. Nếu ai đó trốn thoát, chúng sẽ mất việc, bởi vậy chúng sẵn sàng bắn chết người tù chạy trốn. Dây thép gai được chằng quanh nhả tù và nếu như cô có qua được cái đó cùng những khẩu súng máy, bọn nó còn dùng tới chó săn, cái loại có thể tìm thấy hơi của một con muỗi. Cách đây vài dặm còn có một đồn binh cửa Cảnh vệ Quốc gia, và khi có tù vượt ngục chúng sẽ phái tới một máy bay lên thẳng vũ trang có đèn rọi. Không ai thèm để ý gì nếu như bọn chúng mang cô về sống hay chết. Bọn nó muốn cô chết hơn. Vì nó làm gương cho những mưu tính khác. Người vượt ngục đều cớ sự giúp đỡ từ bên ngoài - bạn bè tuồn cho súng, tiền hạc và áo quần. Họ có những chiếc xe chờ sẵn để trốn”. Chị ta dừng lại để gây ấn tượng. “Thế mà họ vẫn bị bắt lại”.
“Họ sẽ không bắt được tôi”, Tracy quả quyết.
Một nữ giám thị đến gần. Bà ta nói to với Tracy, Tổng giám thị Brannigan nalốn gặp cô”.
“Chúng tôi cần có ai đó chăm sóc đứa con gái nhỏ của mình”. Tổng giám thị Brannigan nói:
“Đó là một công việc tự nguyện. Cô không phải nhận làm nếu như cô không muốn”.
Ai đó chăm sóc đứa con gái nhỏ của mình. Tracy tính toán mau lẹ. Việc này có thể giúp nàng dễ bề vượt ngục hơn là ở đây, làm việc ở nhà của tổng giám thì, nàng có thể dễ dàng biết nhiều hơn nữa về bộ máy nhà tù”.
“Vâng?” Tracy nói. “Tôi đồng ý nhận việc này”.
George Brannigan thấy hài lòng. Ông cứ có một cảm giác bứt rứt rằng mình nợ người phụ nữ này điều gì đó.
“Tốt. Một giờ được trả sáu mươi xu. Khoản tiền này vào cuối mỗi tháng sẽ được đưa vào tài khoản của cô”.
Tù nhân không được phép có tiền mặt, tất cả các món tiền tích lũy sẽ được trả vào ngày ra tù.
Mình sẽ chẳng ở đây đến cuối tháng này. Tracy nghĩ, song nàng vẫn nói thành tiếng. “Thế là tốt rồi”.
“Cô có thể bắt đầu làm việc từ sáng mai. Bà giám thị trưởng sẽ cho cô biết chi tiết”.
“Cám ơn ông tổng giám thị”.
Ông nhìn nàng và thấy muốn nói thêm gì nữa, song cũng không chắc là muốn nói gì. Bởi thế ông nói. “Vậy thôi”.
Khi Tracy báo tin này cho Ernestine, người đàn bà da đen nói với vẻ đầy cân nhắc, “Có nghĩa là họ sẽ để cô trở thành một tù tự giác. Cô sẽ biết rõ các hoạt động của nhà tù. Điều đó có thể làm cho việc vượt ngục dễ dàng hơn.
“Tôi phải làm thế nào?” Tracy hỏi. - “Cô có ba sự lựa chọn, nhưng đều mạo hiểm cả. Cách thứ nhất là chuồn ra. Dùng kẹo cao su làm tắc các ổ khóa cửa buồng giam và các lối đi. Chuồn ra sân, ném một tấm đệm lên trên các sợi dây thép gai, leo ra và chạy”.
Với chó và máy bay lên thẳng truy đuổi? Tracy đã có thể cảm thấy những loạt đạn của bọn lính gác đang găm vào người. Nàng rùng mình. “Các cách kia thì thế nào?”.
“Cách thứ hai là khống chế. Dùng súng bắt theo một con tin. Nếu mà họ tóm lại được thì cô sẽ bị phiền phức đấy”. Chị ta thấy nét hoảng sợ trên mặt Tracy.
“Nghĩa là thêm hai đến năm năm tù nữa”.
“Còn cách thứ ba?”.
“Bỏ đi. Đây là đối với các tù tự giác có việc đi ra ngoài. Một khi đã ở bên ngoài rồi thì cô cứ việc tiếp tục đi”.
Tracy nghĩ về việc đó. Nàng sẽ chẳng có cơ hội nào cả vì lẽ không có tiền, không có một chiếc xe, không có nơi ẩn náu. “Họ sẽ phát hiện thiếu tôi vào giờ điểm danh và bắt đầu lùng kiếm”.
Ernestine thở dài, “Không có một kế hoạch nào hoàn hảo cả, cô bé. Vì thế mà chưa ai trốn khỏi đây được”.
Mình sẽ làm được, Tracy thầm nguyện.
Buổi sáng Tracy đến làm việc tại nhà tổng giám thị Brannigan đánh dấu tháng ở tù thứ năm của nàng. Tracy hồi hộp chờ gặp bà vợ ơng tổng giám thị và đứa trẻ, vì rất mong được làm công việc này. Nó là cái chìa khóa dẫn tới tự do.
Tracy bước vào gian bếp lớn, gọn gàng và ngồi xuống, cảm thấy từng giọt mồ hôi lăn dọc cánh tay mình. Một người đàn bà, trong chiếc áo khoác mặc nhà màu hồng, xuất hiện ở ngưỡng cửa.
Bà ta nói. “Xin chào cô”.
“Dạ, chào bà”.
Người đàn bà toan ngồi xuống rồi lại thôi. Sue Ellen Brannigan có mái tóc vàng hoe, khuôn mặt tươi tắn, chừng giữa tuổi ba mươi. Dáng người thanh mảnh, tao nhã, bà không bao giờ biết chắc là phải cư xử với tù nhân này thế nào. Có nên cảm ơn vì những việc họ làm không, hay chỉ ra lệnh cho họ thôi?
Nên thân thiện, hay là đối xử với họ như là những tù nhân? Sue Ellen vẫn chưa làm quen được với cái ý nghĩ về vlệc sống giữa những kẻ nghiện ma túy, trộm cắp và giết người.
“Tôi là phu nhân Brannigan”, bà nói nhanh. “Amy đã gần năm tuổi, và cô biết là vào tuổi đó chúng hiếu động thế nào rồi. Tôi sợ rằng phải để mắt tới nó suốt ngày”. Bà liếc nhìn bàn tay trái của Tracy. Không có nhẫn cưới, song dĩ nhiên, thời này điều đó chẳng có nghĩa gì. Đặc biệt là với những tầng lớp dưới, Sue Ellen nghĩ. Bà dừng lời và tế nhị hỏi “Cô có con chưa?”.
Tracy nghĩ đến đứa con không được sinh ra của mình.
“Chưa”.
“Tôi hiểu”. Sue Ellen cảm thấy bối rối trước người phụ nữ trẻ này. Ở cô ta có cái gì đó gần như là kiêu hãnh. “Tôi sẽ mang Amy vào”. Bà đi nhanh ra khỏi phòng.
Tracy nhìn quanh. Đó là một ngôi nhà khá lớn, gọn gàng, đồ đạc hấp dẫn.
Với Tracy, dường như đã nhiều năm trôi qua nàng mới lại bước vào nhà của một ai đó. Nó thuộc về thế giới khác, thế giới bên ngoài.
Sue Ellen đã trở lại, dắt một bé gái. “Amy, đây là ...” Nên gọi một tù nhân bằng tên riêng hay tên họ nhỉ? Bà dung hòa lại “Đây là Tracy Whitney”.
“Chào cô”, Amy nói. Con bé giống mẹ ở vẻ thanh tao và cặp mắt sâu màu nâu nhạt, đầy thông minh. Con bé không thật xinh, song vẻ thân thiện cởi mở rất dễ thương.
Mình sẽ không thể nó đụng tới mình, Tracy nghĩ.
“Cô sẽ là cô bảo mẫu mới của cháu phải không”.
“Ồ,cô sẽ giúp mẹ trông nom cháu”.
“Cô Judy đã qua việc thử thách đấy, cô có biết không?
Cô cũng đang được thử thách à?”.
Không, Tracy nghĩ. Nàng nói. “Cô sẽ ở đây lâu, Amy”.
“Thế thì tốt”; Sue Ellen nói vẻ hân hoan. Bà đỏ mặt vì ngượng nghịu và cắn chặt môi. “Ý tôi là ...” Bà nhìn quanh và chuyển sang nói về công việc của Tracy. “Cô sẽ cùng ăn với Amy. Cô có thể chuẩn bị bữa sáng cho nó và chơi buổi sáng. Người đầu bếp sẽ làm bữa trưa ở đây. Sau bữa trưa, Amy phải đi ngủ, về buổi chiều, nó thích đi vòng vòng quanh khu trồng trọt. Tôi nghĩ là để trẻ nó được thấy mấy cái cây lớn lên từng ngày thì thật tốt. Phải không cô?”.
“Vâng”.
Khu trồng trọt ở phía bên kia khu trại chính của nhà tù rộng hai mươi mẫu Anh được trồng rau và cây ăn quả do những tù tự giác chăm sóc. Họ đã đào một cái hồ lớn để lấy nước tưới bao quanh là một bức tường đá thấp.
Năm ngày kéo theo đó lần như một cuộc sống mới đối với Tracy. Nàng thích được rời xa những bức tường nhà tù xám ngoét, thong thả đi dạo quanh khu trồng trọt và hít thở không khí trong lành, song đầu nàng luôn luôn nghĩ tới việc vượt ngục. Khi không có việc với Amy nàng phải trở lại nhà giam. Đêm đêm nàng vẫn ngủ trong đó thế nhưng ban ngày nàng cảm thấy không khí tự do. Sau bữa ăn sang trong bếp nhà tù, nàng đi tới khu nhà của ông tổng giám thị và chuẩn bị bữa sang cho Amy. Tracy đã học được từ Charles cách nấu ăn và nàng thích được làm các loại đồ ăn có rất nhiều ở đấy, nhưng Amy chỉ thích một bữa sang đơn giản gồm một chút súp yến mạch hay ngũ cốc với một vài miếng trái cây. Sau đó Tracy sẽ chơi các trò chơi với con bé hoặc kể chuyện cho nó nghe.
Rất vô tình, Tracy bắt đầu dạy Amy những trò chơi mà mẹ nàng đã từng chơi với nàng.
Amy rất thích búp bê. Tracy bắt chước làm một con cừu kiểu Shati Lewis bằng mấy tiếng vải cũ, song trong nó lại hóa ra nửa cáo nửa vịt. “Cháu nghĩ là đẹp đấy”, Amy nói một cách thành thật.
Tracy giả bộ giọng nói của con búp bê với nhiều ngôn ngữ khác nhau:
Pháp, Ý, Đức, và thứ Amy ngưỡng mộ nhất là những bài dân ca Mehico của Paulita.
Tracy ngắm vẻ sung sướng trên gương mặt con bé và nghĩ mình sẽ không để tình cảm đi quá xa. Con bé chỉ là phương tiện để mình ra khỏi chốn này.
Sau giấc ngủ trưa của Amy, cả hai cùng đi dạo xa xa, và Tracy đã tính toán để nàng và con bé đi qua những nơi trong phạm vi nhà tù mà trước đây nàng chưa biết. Nàng cẩn thận để ý các cửa ra vào, việc canh gác trên tháp canh và việc đổi gác ra sao. Nàng nhận thấy rõ là các kế hoạch mà nàng và Ernestine đã bàn tính đã không sao thực hiện được.
“Đã có ai trốn bằng cách ẩn mình trong các xe chở đồ tiếp tế đến nhà tù chưa? Tôi đã thấy những xe chở sữa và thực phẩm khác”.
“Quên cách đó đi”. Ernestine nói bình thản. “Mọi xe cộ ra vào đều bị lục soát”.
Một buổi sáng, trong khi ăn điểm tâm, Amy nói, “Cháu yêu cô, cô Tracy. Cô sẽ là mẹ cháu nhé?”.
Lòng con bé như xé lòng tracy. “Một mẹ là đủ rồi. Cháu không cần có hai mẹ”.
“Ứ, cháu cần. bố Sally Ann, bạn cháu, mới cưới vợ và Sally Ann có hai vợ đấy thôi”.
“Cháu không phải là Sally Ann”. Tracy nói cộc lốc.
“Ăn xong đi”. Amy nhìn nàng bằng cặp mắt tủi thân. “Cháu không đói nữa”.
“Được. Vậy bây giờ cô sẽ đọc truyện cho cháu nghe”.
Và khi bắt đầu đọc Tracy cảm thấy bàn tay bé bỏng của Amy đặt nhẹ lên tay nàng.
“Cháu ngồi vào lòng được không?”.
“không, hãy nhận từ gia đình cháu ấy. Tracy nghĩ. Cháu không thuộc về cô.
Không có gì thuộc về cô cả.
Sự thoải mái ban ngày ngoài nhà tù đã làm cho các buổi đêm trở nên khó chịu hơn. Tracy căm ghét việc phải trở lại buồng giam. Căm ghét việc bị nhất như một con thú, và không thể nào quen được với những tiếng thét vọng đến từ các buồng giam gần đấy trong bóng tối hờ hững. Nàng thường nghiến răng đến mức phát đau lên.
Một đêm thôi mà, nàng tự hứa với mình. Ta có thể chịu được một đêm.
Tracy ngủ ít, đầu óc rối bời tính toán. Bước đầu tiên là vượt ngục. Bước thứ hai là đương đầu với Joe Romano, Perry Pope, thẩm phán Lawrence và Anthony Orsatti.
Bước ba sẽ là Charles. Song chỉ nghĩ tới điều đó thôi cũng thật đau đớn.
Mình sẽ giải quyết chuyện đó khi thời cơ tới, nàng tự nhủ.
Việc né tránh Bertha Lớn đã trở nên không thể được.
Tracy tin chắc rằng ả Thủy Điển ấy đã sai người theo dõi nàng. Nếu Tracy tới phòng giải trí, thì sau đó ít phút Bertha Lớn sẽ xuất hiện và khi Tracy ra ngoài sân thì cũng chỉ tí tẹo sau lại đã thấy mụ ta.
Một hôm, Bertha Lớn lại gần Tracy và nói, “Hôm nay trông cô em thật xinh đẹp, quả bóng nhỏ. Ta không thể đợi được nữa rồi”.
“Tránh xa tôi ra”, Tracy cảnh cáo.
Ả đàn bà cao to nhếch mép. “Nếu không thì sao? Con chó đen của mày sắp ra khỏi đây rồi. Tao sẽ dàn xếp để chuyển mày tới buồng tao!.
Tracy nhìn mụ.
Bertha Lớn gật đầu. “Ta có thể làm điều đó, cô em ạ.
Hãy cứ tin là thế”.
Lúc này Tracy hiểu rằng nàng đang còn rất ít thời gian. Phải vượt ngục trước ngày Ernestine được tha.
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 4 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
MyleneFero (12-10-2016), psydayDrype (23-10-2015), todRaB (29-05-2016), zraiukdj16 (30-10-2015)
Old 25-08-2006, 03:49 PM   #5
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 11
Amy rất thích được đi ngang cánh đồng cỏ ngập đầy những đóa hoa đồng nội rực rỡ. Cái hồ lớn ở gần đó, vây quanh là một bức tường thấp mà ngay chân tường là sâu thẳm những nước.
“Ta bơi đi”, Amy hài nỉ. “Nào, cô Tracy?”.
“Hồ này không có bể bơi”, Tracy nói. “Họ dùng nước để tưới cơ mà”. Mặt nước lạnh lẽo làm nàng thấy rùng mình.
Tracy nhớ lại, cha mang nàng trên vai đi thẳng ra biển, và khi nàng kêu lên, cha nói. “Đừng là một đứa trẻ nữa, Tracy”, và thả nàng xuống làn nước lạnh, và khi nước tràn qua đầu, nàng bị sặc ...
Thật choáng váng khi biết cái tin đó, dù rằng Tracy đã chờ đợi nó.
“Một tuần nữa kể từ thứ bẩy, tôi sẽ ra khỏi nơi đây”.
Ernestine nói.
Tracy đã không nói với chị ta về câu chuyện với Bertha Lớn. Ernestine sẽ không ở đây để giúp nàng nữa.
Còn Bertha Lớn thì có đủ ảnh hưởng để chuyển Tracy tới buồng giam của mụ. Cách duy nhất để tránh điều đó là nàng phải nói với ông tổng giám thị, nhưng lại biết rằng làm như vậy là cầm chắc cái chết. Mọi tù nhân sẽ chống lại nàng. “Cô phải đấu đá, cưỡng hiếp hoặc đánh lộn.
Được, nàng sẽ đánh lộn.
Ernestine xem xét lại các khả năng vượt ngục. Không cái nào đáng hài lòng cả. Cô không có xe và chẳng có ai chờ sẵn ở ngoài để giúp đỡ Cô sẽ bị tóm lại, mẹ kiếp, và sẽ thật tồi tệ cho cô. Tốt hơn là đành yên một thời gian và chờ xem đã”.
Tracy biết là không yên được. Không thể,được khi mà Bertha Lớn còn đeo đẳng. Ý nghĩ về cái thứ mà con sói lực lưỡng ấy đang thèm khát đã đủ làm cho nàng thấy ói mửa.
Hôm đó là sáng thứ bảy, bảy ngày trước khi Ernestine được trả tự do, Sue Ellen Brannigan đã mang Amy đi nghỉ cuối tuần ở New Orleans, và rracy thì làm việc trong khu bếp nhà tù.
“Việc trông trẻ thế nào?” Ernestine hỏi.
“Tốt thôi ạ”.
“Tôi đã thấy con bé đó. Nó có vẻ thật dễ mến”.
“Nó cũng được” Giọng nàng bình thản.
Dĩ nhiên là tôi sung sướng được ra khỏi đây. Tôi nói với cô là tôi sẽ không bao giờ trở lại nơi này. Nếu ở bên ngoài kia tôi và ai có thể giúp cô được thì ...”.
“Tránh nào”, một giọng đàn ông kêu lên.
Tracy quay lại. Một thợ giặt đang đẩy chiếc xe lớn chất ngập quần áo vải vóc ra phía cổng. Tracy nhìn theo băn khoăn.
“Tôi đang nói là nếu Al và tôi có thể làm gì cho cô – cô biết đấy - gửi đồ cho cô hoặc.:.”.
“Ernie, cái xe chở đồ giặt kia là thế nào? Nhà tù có xe chuyên dụng cơ mà”.
“Ô, cái đó dành cho cai ngục”. Ernestine cười. “Vốn là họ đưa đồ của họ cho phòng giặt nhà tù. song tất cả các khuy bị dứt đứt, tay áo bị xé, những thứ dấu hiệu khiêu dâm được khâu vào bên trong, sơ mi thì nhăn nhúm, vải thì cứ bị mủn ra. Thật đáng xấu hổ phải không, tiểu thư Scarlette? Giờ thì đám cai ngục gửi đồ giặt ra ngoài”. Tracy không còn nghe chị ta nói gì nữa. Nàng đã biết mình sẽ vượt ngục như thế nào.
“Anh George, em nghĩ là chúng ta không nên giữ Tracy ở đây nữa”.
Tổng giám thị Brannigan rời mắt khỏi tờ báo. “Cái gì?
Có gì rắc rối hả?”.
“Em không biết chắc. Song có cảm giác rằng Tracy không thích Amy. Có thể là cô ta không thích trẻ con”.
“Cô ta không khắc nghiệt với Amy chứ? Có đánh, mắng gì con bé không?”.
“Không ...”.
“Vậy, chuyện gì?”.
“Ngày hôm qua, Amy chạy tới ôm lấy Tracy và cô ta đã đẩy nó ra. Em thấy bực mình vì Amy cứ quấn lấy cô ấy.
Nói thật với anh, có thể là em chen một chút. Có như vậy không?”.
Tổng giám thị Brannigan cười. “Cái đó lý giải được nhiều, Sue Ellen. Anh nghĩ là Tracy Whitney thật thích hợp với công việc. Nào, nếu như cô ta gây phiền toái thực sự gì cho em, thì nói anh biết, anh sẽ làm điều gì cần thiết.
“Được, anh yêu quí”. Sue Ellen vẫn chưa hài lòng. Bà nhặt kim chỉ lên và chăm chú vào đó. Chuyện mắc mớ chưa phải đã hết.
“Sao lại không được?”.
“Tôi sẽ cho cô biết, cô bé. Lính gác sẽ lục soát tất cả các xe đi qua cổng”.
“Song với cái xe chở một thùng đựng đồ giặt, họ sẽ không trút cả ra để kiểm soát”.
“Họ cần gì phải làm thế. Khi cái thùng được mang vào phòng chứa đồ giặt thì ở đó đã có một người đứng gác rồi”.
Tracy ngẫm nghĩ. “Ernie ... ai đó có thể thu hút sự chú ý của người gác trong vòng năm phút thôi không?”.
“Cái đó để làm gì?” Bỗng mặt chị ta sáng lên. “Trong khi người đó làm hắn lóa mắt, cô sẽ chui xuống đáy thùng và được phủ kín nhờ đồ giặt”. Chị ta gật đầu. “Được đấy, tôi nghĩ rằng trò quỉ quái đấy có thể được việc”.
“ấy chị sẽ giúp tôi chứ?”.
Ernestine ngẫm nghĩ một lát rồi từ tốn nói. “Được. Tôi sẽ giúp cô, đây cũng là cơ hội cuối cùng mà tôi có thể đá vào mông con Bertha Lớn”.
Mạng lưới thông tin bí mật trong nhà tù lập tức truyền đi mưu toan vượt ngục của Tracy Whitney. Việc này ảnh hưởng tới mọi tù nhân khiến họ cũng lo lắng trong suốt thời gian này và ao ước có đủ sự liều lĩnh để làm như vậy. Thế nhưng họ đã thấy còn có lính gác, chó săn, máy bay lên thẳng và sau rốt là các xác chết được chở về.
Với sự giúp đỡ của Ernestine, kế hoạch đã được triển khai. Ernestine đo các kích thước thân thể Tracy, Lola thì kiếm vải, còn Paulita thì giao cho một cô thợ ở một buồng giam khác may váy áo cho Tracy. Một đôi giày tù nhân được đánh cắp khỏi nhà kho và được nhuộm đi cho hợp với bộ váy đó. Và cứ như có phép lạ, một cái mũ, một đôi găng tay và một cái bóp lần lượt hiện ra.
!Giờ thì bọn ta phải kiếm cho cô một cái căn cước”.
Ernestine nói với Tracy. “Cô cũng cần vài ba thẻ mua hàng và một giấy phép lái xe nữa”.
“Làm sao mà tôi ...?”.
Ernestine lầu bầu. “Hãy cứ để mặc con gái già Enie Littlechap này”.
Chiều tối hôm sau, Ernestine đưa cho Tracy ba thẻ mua hàng với cái tên Jane Smith.
Tiếp theo là một giấy phép lái xe”.
Sau lúc nửa đêm một chút, Tracy nghe thấy tiếng cửa buồng giam mở ra rồi có ai đó lẻn vào. Nàng lập tức ngồi dậy với ý cảnh giác.
Một giọng thì hầm. “Whitney phải không? Đi nào”.
Tracy nhận ra giọng nói của Lillin, một tù tự giác.
“Chị muốn gì ở tôi? “ Tracy hỏi.
Tiếng Ernestine rít khẽ trong bóng tối. “Mẹ cô đã nuôi lớn một đa con gái ngớ ngẩn. Im mồm đi”.
Lilin nói nhẹ nhàng, “Phải làm việc này thật nhanh.
Lỡ bị tóm thì bọn chúng sẽ hành tôi. Nào”. Theo sau Liliian dọc lối đi tối mịt dẫn tới một đầu cầu thang, Tracy hỏi. “Chúng ta đi đâu thế”.
Không có tiếng trả lời. Họ lên tầng trên và khi cầm chắc không có người gác nào quanh đấy, họ chạy dọc hành lang đến căn phòng nơi Traey đã bị lấy dấu tay và chụp hình hôm đầu. Lillian đẩy cửa ra.
Vào đây” cô ta thì thầm.
Tracy theo vào. Một người tù khác chờ sẵn trong đó.
“Đứng sát vào tường”. Giọng cô ta hồi hộp.
Tracy làm theo, lòng bồn chồn lo lắng.
“Nhìn thẳng vào ống kính. Cố gắng giữ bình thường.
Thật buồn cười, Tracy nghĩ. Nàng chưa bao giờ hồi hộp thế này trong đời.
Tiếng bấm máy. “Sáng ra hình sẽ được trao lại”. Ngườì kia nói. “Cái này là để cho vào giấy phép lái xe của cô, Giờ thì đi, nhanh lên”.
Tracy và Lillian trở lại theo lối cũ. Đang đi, Lillian bỗng nói. “Tôi nghe cô sắp chuyển buồng đấy”.
Tracy tái người. “Cái gì?”.
“Cô không biết à? Cô sắp chuyển sang với Bertha Lớn”.
Khi nàng trở lại thì Ernestine, Lola và Paulita đang chờ. “Thế nàọ.”.
“Tốt”.
Cô không à? Cô sắp chuyển sang với Bertha Lớn.
Tracy ớn lạnh.
“Váy áo sẽ xong vào thứ bảy”. Paulita nói.
Đó là ngày tự do cho Ernestine - hạn chót của mình, Tracy thầm nghĩ.
Ernestine thì thầm. “Tất cả đều êm. Đồ giặt sẽ được lấy đi lúc 2 giờ chiều thứ bảy. Cô phải đến phòng chứa đồ lúc 13 giờ 30. Không phải lo ngại gì về người gác ở đây.
Lola sẽ làm cho hắn ta bận bịu ở phòng bên. Paulita chờ sẵn trong phòng chứa đồ sẽ mang tới quần áo cho cô. Căn cước của cô sẽ ở sẵn trong bóp. Lúc giờ 15, cô sẽ được chở ra khỏi cổng nhà tù”, Tracy cảm thấy nghẹn thở. Mới chỉ nói về việc vượt ngục đã làm nàng run cả người. Không ai thèm để ý gì nếu họ được mang về sống hay chết ... họ cho rằng chết còn tốt hơn. Nàng nhớ lại.
Vài ngày nữa nàng sẽ tìm lại tự do:
Đó là ảo tưởng?
Chỉ một chuyện vặt cũng dẫn tới đổ vở. Rồi họ sẽ tìm thấy và đưa nàng trở lại. Song lòng nàng đã quyết.
Tù nhân đều biết chuyện xung đột giữa Ernestine và Bertha Lớn vì Tracy.
Giờ đây con tin Tracy sắp bị chuyển tới buồng của mụ ta, không phải ngẫu nhiên mà không có ai nói với Bertha Lớn về mưu toan vượt ngục của nàng.
Bertha Lớn không thích nghe những tin xấu và thường không phân biệt giữa tin xấu với người dưa tin nên thường hành hạ người đó.
Cho tới tận buổi sáng đó Bertha Lớn mới biết chuyện, nhờ người tù tự giác đã chụp hình cho Tracy.
Mụ nghe tin đó với sự im lặng đáng sợ. Trong lúc lắng nghe người mụ như căng ra.
Lúc nào?” Mụ ta chỉ hỏi có vậy.
“Chiều nay, lúc hai giờ, Bert. Họ sẽ giấu cô ta dưới đáy cái thùng đựng đồ giặt”.
Bertha Lớn nghĩ ngợi một lúc lâu. Rồi mụ lừng lững lại gần một nữ giá thì và nói. “Tôi cần gặp ngay ông tổng giám thị”.
Suốt đêm Tracy không ngủ bởi mệt mỏi, căng thẳng. Những ngày tù tội sao mà dài đằng đặc. Bao hình ảnh của quá khứ thoáng hiện lại trong nàng.
Con thấy mình cứ như một công chúa trong chuyện cổ tích ấy, mẹ ạ. Con không nghĩ rằng lại có thể có hạnh phúc đến thế.
Ra vậy! Con và Charles muốn cưới nhau?
Tuần trăng mật định kéo dài bao lâu?
Mày bắn chết tao rồi đồ chó ...
Tôi thật sự chưa bao giờ biết cô ...
Tấm hình cưới ...Charles đang cười với vợ ....
Chuyện từ thời nào ấy? Chuyện ở đâu ấy?
Chuông báo thức reo đến giật bắn mình. Tracy ngồi dậy trên giường, hoàn toàn tỉnh táo. Ernestine đang chăm chú nhìn nàng. “Cảm giác thế nào, cô bé?
“Bình thường”, Tracy nói dối. Miệng nàng khô đắng, nhịp tim thì dồn dập.
“Ồ, cả hai chúng ta cũng rồi đây hôm nay”.
Tracy nuốt nước miếng một cách khó khăn. “À, vâng”.
“Cô chắc chắn có thể rời nhà tổng giám thị lúc 13 giờ 30 chứ?”.
Paulita nói. “Đừng về muộn, sẽ hỏng việc đấy”.
“Tôi nhất định đúng giờ”.
Ernestine với xuống dưới tấm đệm và lấy ra một xấp giấy bạc. “Cô sẽ cần một ít tiền đi đường. Chỉ có hai trăm thôi, song nó cũng sẽ đỡ cho cô”.
“Ernie, tôi không biết phải nói thế nào ...”.
“Ồ, cứ im đi, cô bé, và cầm lấy”.
Tracy bắt mình cố ăn xong bữa sáng. Đầu óc nàng căng ra và toàn thân bứt rứt. Mình không chịu nổi, nàng nghĩ. Không, mình phải chịu đựng nốt hôm nay.
Trong bếp có vẻ im lặng lạ thường và Tracy chợt nhận ra mình là nguyên nhân của sự im lặng đó, là đối tượng của những ánh mắt và những lời thì thầm hồi hộp. Sắp xảy ra một cuộc vượt ngục và nàng là nhân vật chính của vở kịch.
Trong ít giờ nữa nàng sẽ được tự do. Hoặc là chết.
Nàng đứng dậy, bỏ dở bữa ăn và đi về phía khu nhà tổng giám thị Brannigan.
Trong khi chờ đợi người gác mở cổng đầu hành lang, nàng chạm trán Bertha Lớn. Mụ Thụy Điển hằn học nhìn nàng.
Mụ sẽ phải sửng sốt cho mà xem. Tracy nghĩ.
Giờ đây nó sẽ hoàn toàn là của mình, Bertha Lớn nghĩ.
Buổi sáng chậm chạp trôi đi đến mức Tracy muốn phát điên. Từng phút, từng phút lê thê như vô tận. Nàng đọc cho Amy nghe mà không hiểu mình đang đọc cái gì song vẫn nhận thấy mẹ Amy đang từ cửa sổ nhìn vào.
“Cô Tracy, ta chơi trốn tìm nào”.
Tracy còn lòng dạ nào mà chơi, song không dám mạo hiểm gợi lên sự nghi ngờ ở mẹ Amy nên cớ gượng cười.
“Được thôi. Sao cháu không trốn trước đi, Amy?”.
Hai cô cháu đang ở ngoài sân trước, nơi có thể nhìn thấy tòa nhà trong đó có gian phòng chứa đồ giặt ở đằng xa. Nàng phải có mặt ở đó đúng 13 giờ 30, sẽ thay đồ mặc đi phố mà các bạn tù đã làm cho, vào lúc 13 giờ 45 sẽ vào nằm dưới đáy thùng, phủ lên trên là quần áo, vải vóc. Lúc 14 giờ, người thợ giặt sẽ tới lấy đồ và chất cái thùng lên xe của anh ta. Lúc 14 giờ 15 cái xe sẽ chạy ra cổng để tới một thị trấn kề đó, nơi có một xưởng giặt đồ.
Từ ghế trước người lái xe không thể nhìn lại đằng sau được. Khi xe vào thị trấn và dừng trước một đèn đỏ nào đó, cứ mở cửa ra bước xuống, thật thản nhiên, và đón một chiếc xe buýt, đi đâu thì đi ... nàng nhớ lại những lời chỉ dẫn.
“Cô có thấy cháu không” Amy la lớn. Con bé thập thò sau một gốc cây mộc lan, một tay bịt miệng để khỏi vang lên tiếng cười khoái chí.
Mình sẽ nhớ con bé, Tracy nghĩ. Khi rời khỏi chốn này, mình sẽ nhớ hai.người - người đàn bà da đen tốt bụng và con bé này đây. Nàng băn khoăn, liệu Charles Stanhope III sẽ nghĩ thế nào về chuyện đó.
“Cô tìm cháu đây”. Tracy nói to.
Sue Ellen, từ trong nhà, đang xem hai cô cháu chơi, cảm thấy có gì lạ ở Tracy hôm nay. Suốt buổi sáng, cô ấy cứ nhìn đồng hồ, như đang đợi ai đó, và đầu óc rõ là không chú ý gì đến Amy.
Lúc George về ăn trưa mình phải nói với anh ấy việc này, Sue Ellen nghĩ bụng. Mình sẽ kiên quyết đòi phải thay cô ta.
Ở ngoài sân, Tracy và Amy chơi ô lò cò một lát, rồi chơi bài, rồi Tracy đọc truyện cho con bé, sáu cùng điều mong đợi cũng đến - đã 12 giờ 30, giờ cho Amy ăn trưa.
Thời điểm mà Tracy phải khỏi sự. Nàng dẫn cô bé vào nhà.
“Tôi đi đây, thưa bà Brannigan”.
Gì vậy? Ôi. Không có ai nói gì với cô à, Tracy? Hôm nay chúng tôi có một đoàn khách quan trọng. Họ dùng bữa trưa ở đây, do vậy Amy sẽ không được ngủ trưa. Cô có thể mang nó đi chơi đâu đấy”.
Tracy đứng chết lặng, cố ghìm để khỏi kêu lên “Tôi ...
Tôi không thể, thưa bà”.
Sue Ellen Brannigan đanh giọng. “Cô nói không thể nghĩa là thế nào?”.
Tracy thấy vẻ giận dữ trên mặt Sue Ellen và nghĩ mình không được phép trả lời vậy. Bà ta có thể gọi ông tổng giám thị và mình sẽ bị đưa lại buồng giam.
Nàng gượng cười. “Ý tôi là ... Amy chưa ăn trưa. Con bé sẽ đói”.
“Tôi đã bảo đầu bếp chuẩn bị sẵn đồ ăn nhẹ cho cả hai. Cô có thể dẫn nó đi dạo ở ngoài đồng cỏ và ăn ngoài đó, Amy thích dạo chơi lắm phải không, con gái yêu?”.
“Con thích lắm”. Con bé nhìn Tracy, về cầu khẩn. “Ta đi chứ, cô Tracy? Ta đi chứ, cô?”.
Không? Được. Thận trọng. Vẫn có thể được. Tracy nghĩ.
Miễn là có mặt lúc 13 giờ 30.
Tracy nhìn bà Brannigan. “Mấy giờ bà muốn tôi đưa cháu trở về?”.
“Ồ, khoảng 15 giờ. Khi đó thì khách đã đi rồi”.
Và cả cái xe nữa, nàng nghĩ. Và cả thế giới như sụp đổ trước mặt nàng.
“Tôi ...”.
“Cô có khỏe không? Trông cô có vẻ xanh”.
Đúng thế. Sẽ nói là nàng ốm. Sẽ đi bệnh xá. Nhưng rồi họ sẽ khám và giữ lại đó. Nàng sẽ không thể nào ra đúng giờ. Phải có cách nào khác mới được.
Sue Ellen đang chăm chú nhìn.
“Tôi vẫn khỏe”.
Cô ta có chuyện gì đó, Sue Ellen quả quyết. Dứt khoát mình sẽ đòi George kiếm người khác.
Cặp mắt Amy sáng lên hoan hỉ. “Cháu sẽ dành cho cô cái bánh kẹp to nhất, cô Tracy. Cô cháu mình sẽ tha hồ vui, phải không cô?”.
Tracy không trả lời.
Đoàn khách viếng thăm hoàn toàn bất ngờ. Chính thống đốc bang William Haber tháp tùng đoàn Ủy ban cải cách chế độ nhà tù. Đây là chuyện mà mỗi năm, tổng giám thị Brannigan phải gặp một lần.
“Trong phạm vi nhà tù, George”, ông thống đã căn dặn, “quét dọn sạch sẽ, bảo các tiểu thư ấy hãy tươi cười, và chúng ta sẽ có thêm kinh phí”.
Sáng đó, người phụ trách bảo vệ đã nói:
“Dẹp tất cả những ma túy, dao rựa, và những dụng cụ thủ dâm”.
Thống đốc Haber và đoàn khách tới vào lúc 10 giờ sáng. Họ sẽ thanh tra bên trong khu nhà giam trước, rồi thăm khu trồng trọt, sau đó sẽ dùng bữa trưa với tổng giám thị tại nhà riêng của ông.
Bertha Lớn thấy sốt ruột. Khi yêu cầu gặp tổng giám thị người ta trả lời rằng. “Sáng nay ông ấy rất bận. Ngày mai gặp ông ấy dễ hơn.
Đéo cần ngày mai”. Bertha Lớn nổi giận. “Tôi muốn gặp ngay bây giờ. Việc quan trọng”, Một nữ tù khác mà nói năng như vậy thì khó lòng tránh khỏi sự trừng phạt, song với Bertha Lớn thì khác. Những người phụ trách nhà tù này quá biết về thế lực của mụ. Họ đã chứng kiến mụ khởi đầu những vụ nổi loạn, và họ cũng lại chứng kiến mụ dập tắt những vụ nổi loạn đó. Trên thế gian này, không nhà tù nào có thể được quản lý tử tế một chút mà không có sự hợp tác của mấy kẻ cầm đầu đám tù nhân, mà Bertha Lớn thì là một trong những kẻ đó.
Mụ được người ta để ngồi chờ trong phòng tiếp khách của ông tổng giám thị tới gần một giờ đồng hồ, tấm thân lừng lững như che khuất cả cái ghế mụ đang ngồi. Cô ta là một con vật ghê tởm, thư ký của ông tổng giám thị nghĩ. Cô ta sẽ mang cả rận rệp vào đây mất.
“Bao lâu nữa.” Bertha Lớn hỏi.
“Chắc là không quá lâu đâu. Đang phải tiếp một nhóm khách. Sáng nay ông tổng giám thị rất bận”.
Bertha Lớn nới. “Ông ta sẽ bận hơn cho mà xem”. Mụ nhìn đồng hồ đeo trên tay. 12 giờ 45. Còn nhiều thời gian.
Một ngày thật đẹp trời, trong veo, ấm áp, và từng làn gió nhẹ mang theo mùi hương phảng phất thổi ngang cánh đồng xanh ngát. Tracy trải tấm vải trên đám cỏ ngay bên hồ nước, và Amy thích thú nhai cái bánh kẹp phết trứng.
Tracy liếc nhìn đồng hồ. Đã gần 13 giờ. Nàng không tin vào mắt mình nữa. Sao mà buổi sáng trôi qua quá chậm chạp thế, còn buổi chiều thì cứ lướt đi vèo vèo.
Nàng phải nghĩ cho được một cách gì đó, hoặc là thời gian sẽ cướp đi cơ hội cuối cùng của nàng.
giờ 10. Trong phòng khách của tổng giám thị Braunigan cô thư ký đặt ống nghe xuống.và nói với Bertha Lớn. “Rất tiếc. Ông tổng giám thị nới là không thể tiếp cô hôm nay được. Ta hãy thỏa thuận một cái hẹn vào ...”.
Bertha Lờn chồm dậy. “Ông ấy phải gặp tôi. Đó là ...”.
“Chúng tôi sẽ bố trí vào ngày mai”.
Bertha Lớn đã toan nói, “Ngày mai thì quá muộn”, song kịp ghìm lại. Không ai khác ngoài ông tổng giám thị được biết điều mụ đang làm, chứ đám lau nhau dễ gây chuyện rắc rối lắm. Nhưng mụ không có định chịu thua.
Không đời nào mụ chịu để Tracy thoát khỏi. Mụ bước vào thư viện nhà tù và ngồi xuống bên cái bàn rồi viết vào một mẩu giấy, và nghi người giám thị bước tới bên một người tù khác, Bertha Lớn thả mẩu giấy lên mặt bàn của bà ta và bỏ đi.
Người giám thị quay lại bàn và thấy mẩu giấy bèn mở ra xem. Bà ta đọc tới hai lần dòng chữ viết hoa:
HỔM NAY PHẢI KIỂM TRA CHIÊC XE CHỠ ĐỒ GIẶT.
Không thấy chữ ký. Một trò đùa? Cẩn thận vẫn hơn. Bà ta nhấc điện thoại.
“Cho tôi gặp phụ trách đội bảo vệ ....”.
giờ 15. “Cô không ăn à?” Amy nói. “Cô có muốn ăn mấy cái bánh kẹp của cháu không?”.
“Không? Để yên cho tôi nhờ”. Quả thật nàng không định tâm nói gay gắt như thế.
Amy ngừng ăn. “Cô giận cháu à, cô Tracy? Đừng, cháu yêu cô lắm mà.
Cháu không bao giờ giận cô cả”. Đôi mắt trong trẻo của con bé rưng rưng.
“Cô không giận”.
“Cháu cũng không đói nếu cô không muốn ăn. Ta chơi bóng đi cô, cô Tracy”.
Và Amy lôi quả bóng cao su từ trong túi ra.
giờ 16 phút. Lẽ ra nàng đã phải đi rồi. Để tới căn phòng chứa đồ mất ít nhất là mười lăm phút. Nhanh lên một chút thì còn kịp. Nhưng không thể bỏ Amy lại một mình. Tracy nhìn quanh và trông thấy một nhóm tù tự giác đang hái đậu ở đằng xa. Ngay tức khắc, Tracy biết mình phải làm gì.
“Cô không muốn chơi bóng à, cô Tracy?”.
Tracy đứng lên. “Được. Bây giờ ta chơi một trò mới.
Hãy thi xem ai có thể ném trái bóng đi xa nhất nào. Cô sẽ ném trước rồi thì tới lượt cháu. Tracy nhặt quả bóng lên và dùng hết sức ném mạnh về phía những người tù kia.
“Ôi, xa quá”. Amy nói đầy khâm phục “Xa thật đấy”.
“Cô sẽ chạy đi nhặt bóng”, Tracy nói, “còn cháu thì chờ ở đây”.
Và nàng chạy, chân như bay trên thảm cỏ. Lúc này là 18 giờ 18 phút. Nếu muộn, họ có đợi không? Nàng chạy nhanh hơn nữa. Từ phía sau, có tiếng gọi của Amy, song nàng không để ý đến nữa. Những người tù kia đang chuyển qua hướng khác. Tracy la lên và họ dừng lại. Khi tới chỗ họ, nàng gần như không thở được nữa.
“Có gì vậy?” Một người trong số họ hỏi.
“Không có gì”. Nàng thở dốc. “Con bé đằng kia, chị nào trông nó hộ chút nhé. Tôi có chút việc gấp phải làm. Tôi ...”.
Tracy nghe tiếng gọi tên mình từ đằng xa bèn quay lại Amy đang đứng trên bờ tường bê tông ở sát bến hồ nước. Con bé vẫy vẫy. “Nhìn cháu này, cô Tracy”.
“Không. Xuống ngay!” Tracy hét lên.
Và trong khi Tracy đứng nhìn chết trân, hoảng hốt thì Amymất thăng bằng và ngã xuống hồ.
“Ôi, lạy Chúa?” Tracy mặt cắt không còn hột máu.
Nàng không còn biết phải làm thế nào, không còn cách lựa chọn nào cả.
Mình không thể giúp con bé được. Bây giờ thì không được rồi. Ai đó sẽ cứu nó.
Mình còn phải cứu mình. Mình phải thoát khỏi chốn này, không thì mình sẽ chết - Lúc này là 13 giờ 20.
Tracy lao mình chạy, chưa bao giờ trong đời nàng lại chạy nhanh như thế.
Những người khác gọi theo, song nàng không nghe thấy gì hết. Nàng chạy như bay, không cả biết rằng đôi giày đã tuột khỏi chân, bất chấp những đất đá lổn nhổn. Tim đập thình thịch, ngực đau tức và nàng vẫn cố chạy nhanh hơn, nhanh hơn nữa. Nàng đã tới sát bức tường và bám tay nhảy lên. Tít bên dưới, trong làn nước sâu, nàng thấy Amy đang vùng vẫy, cố ngoi lên.
Không một giây lưỡng lự, Tracy lao mình xuống. Và khi vừa chạm mặt nước, Tracy mới chợt nghĩ - Ôi, lạy Chúa!
Mình không biết bơi.

__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 4 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
GPexesolleYdof (25-09-2014), Randallfemn (01-08-2014), rgpkgwpt33 (29-12-2014), sweardatows (02-11-2015)
Old 25-08-2006, 04:25 PM   #6
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 12

NEW ORLEANS.
Thứ Sáu, 25 tháng Tám - 10 giờ
Lester Torrance, thủ quỹ ngân hàng First Merchants New Orleans, thường tự mãn ở hai điểm năng lực tình dục và đánh giá khách hàng. Lester đã ngót năm mươi, là một người đàn ông có bộ mặt xương xương, tái nhợt với tóc mai để dài, và bộ ria mép kiểu Jon Selleck. Ông ta đã hai lần không được nâng lương, và để trả đũa, Lester dùng nhà băng làm phương tiện cho việc hẹn hò trai gái. Từ xa cả dặm, ông ta đã có thể phát hiện ra các cô gái làng chơi, và thích thú với việc thuyết phục các cô cho hưởng lạc mà không phải trả tiền gì hết. Các bà góa là những miếng mồi đặc biệt ngon ăn. Họ đến đây với nhiều dáng vẻ, tuổi tác, tâm trạng, và sớm hay muộn cũng sẽ xuất hiện trước ô cửa của Lester.
Nếu như họ tạm thời lạm chi thì ông ta sẽ thông cảm lắng nghe và trì hoãn việc trả về những tấm séc đã hết tiền trong tài khoản. Để đáp lại, có thể là một bữa cơm chiều ở đâu đó. Nhiều nữ khách hàng phải tìm đến sự giúp đỡ của ông ta và thú nhận những bí mật tế nhị giấu chồng vay một khoản tiền ... cần giữ kín một vài tấm séc bí mật mà nàng đã viết ... đang dự tính ly hôn và Lester có thể giải quyết cái tài khoản chung của hai vợ chồng ngay được không? ... Dĩ nhiên là Lester sốt sắng làm họ hài lòng. Và ông ta cũng được toại nguyện.
Vào cái buổi sáng thứ sáu đặc biệt này, Lester đã biết mình gặp may khi thấy cô gái bước vào nhà băng. Đẹp đến sững sờ:
mớ tóe đen óng ả phủ xuống vai, váy ngắn bó khít lấy người và cái áo mỏng làm thấy rõ một thận hình mà một vũ nữ Las Vegas cũng phải ghen tị.
Nhà băng có bốn thủ quỹ và cặp mắt của cô gái lướt từ ô cửa này sang ô cửa khác, vẻ như tìm kiếm một sự giúp đỡ.
Khi cô ta đưa mắt tới Léster, ông ta vội vã gật đầu và mỉm cười mời mọc. Cô ta bèn đi lại, quả như Lester dự đoán.
“Xin chào”, Lester nồng nhiệt. “Tôi có thể giúp gì cô được?” Ông ta có thể thấy hai núm vú cô gái hằn rõ trên làn lụa mỏng dính của chiếc áo và thầm kêu lên - cô bé, giá mà ta được dày vò em!
“Tôi e là mình đang gặp khó khăn”, cô gái than thở bằng cái giọng miền Nam dễ chịu nhất mà Lester từng được nghe.
“Thì tôi ở đây là vì thế”, ông ta hồ hởi nói, “để giải quyết những mắc mớ”.
“Ôi, được thế thì tất quá. Tôi sợ rằng tôi đã làm một điều khủng khiếp”.
Lester mỉm cười thân tình, vẻ như thầm nói với cô gái là hãy tin cậy ở ông ta. “Tôi khó mà tin một cô gái dễ thương thế này lại có thể làm một điều gì khủng khiếp”.
Ôi, thật vậy đấy”. Cặp mắt màu nâu nhạt của cô gái mở to, đầy vẻ lo lắng.
“Tôi là thư ký của Joseph Romano, ông chủ bảo tôi đặt những tấm séc mới cho ông ta từ cách đây một tuần, thế mà tôi quên khuấy đi mất, và bây giờ chỗ chúng tôi sắp hết cả séc rồi. Nếu biết chuyện này thì thật không hiểu ông ta sẽ làm gì với tôi nữa”. Những lời thốt ra sao mà mềm mại, mượt mà.
Lester đã quá quen với cái tên Joseph Romano. Đó là khách sộp của nhà băng này, mặc dù chỉ có một khoản tiền nhỏ trong tài khoản. Ai cũng biết là những khoản tiền lớn của ông ta đang nằm đâu đó.
Lão ta biết chọn thư ký lắm, Lester nghĩ bụng. Ông ta mỉm cười. Được, có gì nghiêm trọng lắm đâu, thưa bà?”.
“Cô Hartford. Lureen Hartford”.
Cô Thật là một ngày may mắn. Lester có cảm giác mọi chuyện sẽ diễn ra hết sức thú vị. “Ngay bây giờ, tôi sẽ đặt những tấm séc mới cho cô và cô sẽ nhận được trong hai tuần nữa, và ...”.
Cô gái khẽ kêu lên. “Ôi, vậy thì quá muộn, và ông Romano sẽ nổi giận với tôi mất. Ông biết đấy, tôi không còn đầu óc nào mà làm việc nữa”. Cô hơi tỳ người về trước, hai bầu vú chạm khẽ vào thành ô cửa. Cô nói trong hơi thở hồi hộp, “Nếu ông có thể xuất ngay những tấm séc đó, tôi sẽ vui lòng trả một món tiền”.
Lester nói vẻ khổ sở. “Thật rất tiếc, cô Lureen, không thể nào ... Ông ta thấy cô đã gần phát khóc.
“Nói thật với ông, chuyện này có thể làm cho tôi mất việc đấy Xin ông ... Tôi sẽ làm bất cứ điều gì ...”.
Lester như nghe thấy những nốt nhạc thánh thót.
“Tôi sẽ nói với cô việc tôi phải làm nhé”, Lester tuyên bố. “Tôi sẽ yêu cầu làm gấp, và cô sẽ nhận những tấm séc đó vào thứ hai. Vậy được chứ?”.
“Ôi, ông thật tuyết vời!” Giọng cô gái đầy vẻ biết ơn.
“Tôi sẽ gửi về địa chỉ nào?”.
“Tôi đến nhận thì tốt hơn, bởi không muốn để ông Romano thấy tôi đã ngu ngốc đến thế nào?”.
Lester mỉm cười lả lơi. “Không phải là ngu ngốc, Lureen. Đôi lúc ai mà chất lơ đễnh”.
Cô gái nói khẽ. “Tôi sẽ không dám quên ông. Hẹn gặp ông vào thứ hai”.
“Tôi sẽ có mặt ở đây”.
Có trời mà khiến ông ta đi đâu vào hôm đó.
Cô gái mỉm cười làm ông ta sững sờ vừa chậm rãi đi ra, dáng đi thật mê hồn.
Lester vừa tủm tỉm cười một mình vừa đi lại tủ hồ sơ, y ra số tài khoản của Josepha Romano và gọi điện yêu cầu một số séc mới cho tài khoản đó.
Cái khách sạn trên đường Carmen y hệt cả trăm khách sạn khác ở New Orleans, chính vì vậy mà Tracy đã chọn nó. Nàng thuê một phòng nhỏ, bày biện sơ sài, tuy vậy so với cái phòng giam kia thì đây vẫn là một cung điện.
Sau cuộc gặp Lester trở về Tracy tháo bộ tóc giả màu đen, vuốt lại mái tóc óng ả của nàng, tháo đôi mắt kính mềm đeo sát tròng mắt, rồi rửa sạch lớp son phấn trên mặt, ngồi xuống chiếc ghế tựa duy nhất trong phòng và thở phào nhẹ nhõm. Mọi việc đang trôi chảy. Tìm ra tài khoản của Joe Romano nằm trong nhà băng nào không có gì khó khăn. Nó có trong đóng giấy tờ mẹ nàng để lại những tấm séc đã bị hủy do Romano viết. “Romano Cô không thể động tới hắn được”, đó là lời Ernestine.
Ernestine đã nhầm và Joe Romano mới chỉ là kẻ đầu tiên. Còn nữa. Từng kẻ một.
Tracy nhắm mắt và nhớ lại điều kỳ diệu đã đưa nàng đến đây ...
Lại là cảm giác làn nước tối sẫm, lạnh giá tràn qua đầu nàng đang chìm xuống và thấy sợ hãi. Nàng quờ quạng và nắm được vào con bé, đẩy nó lên mặt nước. Amy vùng vẫy lung tung, lại kéo cả hai chìm xuống, tay và chân con bé quẫy đạp điên cuồng. Lồng ngực Tracy đau tức khi cố ngoi lên khỏi mặt nước, tay vẫn túm chặt con bé, và cảm thấy đuối sức. Không được nữa rồi, nàng nghĩ.
Cả hai cùng chết mất. Có những tiếng nói ồn ào và nàng cảm thấy Amy bị gỡ tuột khỏi tay mình, nàng thét lên. “Ôi., Chúa ơi, không?” Những bàn tay nào đó giữ chặt ngay lấy nàng và một giọng nói cất lên. “Giờ thì ổn rồi, bình tĩnh lại.
Mọi chuyện đều đã qua”.
Tracy mở mắt nhìn quanh và thấy con bé đang trong tay một người đàn ông.
Ít giây sau nàng đã thiếp đi.
Tai nạn này bình thường ra thì cũng chẳng có gì hơn ngoài một mẩu tin ở trang trong của các tờ báo buổi sáng, song ở đây lại là việc một tù nhân không biết bơi đã liều mạng để cứu lấy đứa con nhỏ của viên tổng giám thị. Do vậy, chỉ qua một đêm, báo chí và các hình luận viên truyền hình đã biến Tracy thành một nữ anh hùng. Đích thân thống đốc Haber đã cùng với tổng giám thị Brannigan tới bệnh xá nhà tù thăm Tracy.
“Cô đã có một hành động dũng cảm”, tổng giám thị nói. “Sue Ellen và tôi muốn được bầy tỏ lòng biết ơn với cô”. Giọng ông nghẹn ngào xúc động.
Tracy vẫn chưa phục hồi hẳn. “Amy thế nào rồi?”.
“Con bé sẽ khỏe thôi”.
Tracy nhắm mắt lại. Mình không thể chịu nổi nếu có chuyện gì xảy ra cho con bé. Tracy thầm nghĩ. Nàng nhớ lại sự lạnh lùng của mình khi mà tình thương yêu là tất cả những gì mà con bé muốn có, và nàng thấy xấu hổ. Sự kiện xảy ra đã cướp đi cơ hội vượt ngục, song nàng biết rằng nếu như được làm lại thì nàng vẫn sẽ như thế.
Cũng có một cuộc tra xét ngắn ngủi về chuyện xảy ra.
“Con có lỗi”, Amy nói với bố. “Con và cô đang chơi bóng, cô Tracy chạy đi nhặt bóng và bảo con chờ, nhưng con lại trèo lên tường để có thể nhìn theo cô rõ hơn và ngã nhào xuống nước. Cô Tracy đã cứu con bố ạ”.
Họ giữ Tracy tại bệnh xá đêm đó để theo dõi và sang hôm sau nàng được đưa tới phòng làm việc của tổng giám thị Brannigan. Giới thông tấn đang chờ.
Họ không bỏ lỡ bao giờ những câu chuyện hấp dẫn, và thế là các phóng viên của UPI và AP đã có mặt, còn đài truyền hình địa phương thì cử tới hẳn một nhóm phóng viên.
Đêm hôm đó tin và bài về hành động anh hùng của Tracy được tung ra, các tình tiết được đưa lên màn ảnh truyền hình quốc gia, và câu chuyện lan nhanh.
Các tờ Times, Newsweek, People và hàng trăm tờ khác đã đăng tải câu chuyện.
Trong khi giới báo chí rầm rộ như thế, thì nhiều thư và điện đổ tới nhà tù đòi ân xá cho Tracy.
Thống đốc Haber thảo luận vấn đề với tổng giám thị Brannlgan.
“Tracy Whitney bị đưa đến đây vì một tội nặng”, tổng giám thị báo cáo.
Vị thống đốc trầm ngâm. “Thế nhưng cô ta không có tiền án gì, đúng không, George?”.
“Đúng vậy, thưa ngài?”.
“Tôi cũng chả ngại nói để cậu biết là tôi đang phải chịu một sức ép ghê gớm về cô ấy”.
“Tôi cũng vậy thưa thống đốc”.
“Dĩ nhiên là không thể để công luận dạy bảo chúng ta phải điều hành nhà tù của ta thế nào, có phải không?”.
“Chắc chắn là không rồi”.
“Mặt khác vị thống đốc thận trọng, “cô Whitney này rõ ràng đã chứng tỏ lòng can đảm của mình, hoàn toàn xứng đáng là một nữ anh hùng”.
“Cái đó thì rõ rồi”. Tổng giám thị đồng tình.
Vị thống đốc châm một điếu xì gà. “Ý kiến cậu thế nào, George. George Brannigan thận trọng lựa lời. “Tất nhiên là ngài biết đấy, thưa thống đốc, tôi có một sự quan tâm hết sức cá nhân trong chuyện này. Đứa bé được cứu sống là con gái tôi. Thế nhưng, gác chuyện đó qua một bên thì tôi vẫn không nghĩ rằng Tracy Whitney là một tội phạm thực sự, và tôi không tin cô ấy, nếu ở bên ngoài, lại là một đe dọa đối với xã hội chúng ta, Tôi xin đề xuất rằng hãy ân xá cho cô ta”.
Vị thống đốc, người cũng đang sắp loan báo ý định ứng cử một nhiệm kỳ mới, đã nhận ra ý hay trong lời đề xuất đó “Chúng ta hãy làm như đang chơi cờ vậy”. “Ông đáp”.Trong chính trị, thời điểm là tất cả”.
Sau khi bàn bạc với chồng, Sue Ellen bảo Tracy. “Ông tổng giám thị và tôi rất muốn cô chuyển đến ở đây, chúng tôi còn dư một phòng ngủ ở phía sau. Cô có thể trông nom Amy suốt ngày được”.
“Cảm ơn bà”, Tracy đáp với vẻ biết ơn. “Thế thì tốt quá”.
Thật là tuyệt diệu. Chẳng những đến đêm không còn bị nhất vào phòng giam, mà quan hệ giữa nàng với Amy cũng hoàn toàn thay đổi. Amy yêu quý Tracy và cũng được đáp lại. Nàng thích được có con bé xinh xắn, dễ thương này luôn ở bên mình. Hai cô cháu chơi những trò chơi cũ, xem những cuốn phim của Disney trên ti vi và cùng đọc sách với nhau. Không khí phần nào có vẻ như trong gia đình vậy.
Song bất kỳ khi nào có việc gì đấy mà Tracy phải đi tới khu nhà giam thì thế nào nàng cũng lại chạm trán với Bertha Lớn.
“Đồ chó may mắn” Bertha Lớn hằm hè. “Song rồi mày cũng sẽ bị đưa trở lại đây như mọi kẻ khác. Tao sẽ làm việc đó, cô bé ạ”.
Khoảng ba tuần sau vụ tai nạn đó, một hôm Tracy và Amy đang chơi trò đuổi bắt ngoài sân thì Sue Ellen Brannigan từ trong nhà chạy ra. Bà đứng nhìn hai cô cháu một thoáng rồi nói. “Tracy, ông tổng giám thị vừa gọi điện về. Ông muốn cô tới phòng làm việc của ông ngay”.
Tracy chợt thấy sợ hãi. Liệu điều này có nghĩa là nàng sắp bị đưa trở về nhà giam? Bertha Lớn đã sắp đặt bằng ảnh hưởng của mụ? Hay là bà Brannigan cho là nàng và Amy đang trở nên quá thân thiết?
“Thưa bà, vâng”.
Khi Tracy được đưa tới thì ông tổng giám thị đang đứng ngang ngưỡng cửa.
“Cô ngồi xuống”, ông nói.
Tracy cố tìm câu trả lời cho số phận của mình qua giọng nói của ông.
“Tôi có một tin cho cô”. Ông ngừng lời với vẻ xúc động mà Tracy không hiểu nổi. “Tôi vừa mới nhận được lệnh của thống đốc bang Louisiana, dành cho cô một sự ân xá hoàn toàn, hiệu lực tức thời”.
Lạy Chúa, có phải ông ấy vừa nói cái điều mà con nghe thấy không? Nàng sợ hãi, không dám hỏi lại.
“Tôi muốn cô hiểu rằng”, ông tổng giám thị nói tiếp.
“Điều này không phải vì cô đã cứu sống con gái tôi. Cô đã hành động như bất kỳ công dân đáng kính nào khác sẽ làm, nếu ở vị trí cô lúc ấy. Dù thế nào chăng nữa, tôi thực sự không tin rằng cô có thể là một đe dọa đối với xã hội”.
Ông cười và nói thêm “Amy sẽ nhớ cô. Chúng tôi cũng vậy”.
Tracy không còn biết nói gì. Giá mà ông tổng giám thị biết được sự thật rằng nếu cái tai nạn đó không xảy ra chăng nữa, thì nhân viên của ông cũng sẽ phải mở cuộc truy lùng cô - một kẻ chạy trốn.
“Ngày kia, cô sẽ được trả lại tự do”.
Ngày “thức dậy” của nàng. Và Tracy vẫn Chưa hết ngỡ ngàng. “Tôi ... tôi.
không biết phải nói gì”.
“Cô không phải nói gì hết. Mọi người ở đây đều tự hào về cô Bà Brannigan nhà tôi và cá nhân tôi mong chờ cô làm được những việc tất đẹp ở bên ngoài”.
Vậy đúng là sự thực? Nàng được tự do Tracy bủn rủn đến nỗi phải tỳ vào thành ghế để ngồi được vững. Và sau cùng, khi cất tiếng, giọng nàng cứng rắn.
“Thưa ông tổng giám thị, có nhiều việc tôi muốn làm”.
Hôm cuối cùng, một tù nhân ở cùng khu với Tracy bước lại gần, hỏi. “Vậy là cô sắp ra khỏi đây?”.
“Đúng vậy?”.
Người đàn bà kia, Betty Franciscus, chừng ngoài bốn mươi, vẻ người hấp dẫn.
“Ở ngoài đó, nếu cần giúp đỡ gì, cô nên tới gặp một người tên là Connađ Morgan ở New York”. Chị ta chìa cho Tracy một mẩu giấy. “Ông ta thường mươn giúp đỡ những người mới ra tù”.
“Cám ơn, nhưng tôi không nghĩ là mình sẽ cần”.
“Biết thế nào được. Cứ cầm lấy địa chỉ của ông ta”.
Hai giờ sau, Tracy đi ra khỏi cổng nhà tù, ngay trước những ống kính truyền hình. Nảng không nói gì với các phóng viên, nhưng khi Amy vùng khỏi tay mẹ và nhào vào vòng tay của Tracy thì các máy quay đều chớp lấy. Và hình ảnh này đã được đưa ngay lên bản tin truyền hình tối hôm đó.
Tự do! Với Tracy, giờ đây nó không chỉ là một từ trừu tượng mà là một cái gì đó rất cụ thể, cảm nhận được hẳn hoi, một điều kiện sống mà người ta yêu quý và thưởng thức nó. Tự do - có nghĩa là được hít thở không khí trong lành, sự riêng tư, đi ăn không phải xếp hàng và không phải nghe những tiếng chuông đầy khó chịu. Nó có nghĩa là được tắm nước nóng với xà phòng thơm, có nghĩa là những đồ lót mềm mại, những váy áo đẹp và những đôi giày cao gót. Nó có nghĩa là được mang một tên gọi chứ không phải một con số. Tự do - có nghĩa là thoát khỏi Bertha Lớn, thoát khỏi nỗi lo sợ bị cưỡng dâm tập thể, và thoát khỏi sự buồn tẻ khủng khiếp hàng ngày trong nhà tù.
Song Tracy cũng phải mất ít thời gian để làm quen với sự tự do mới mẻ của mình. Đi ngoài phố, nàng phải chú ý để khỏi xô phải người khác. ở trong tù, việc đụng chạm ấy có thể dẫn tới một cuộc đánh lộn giữa các tù nhân.
Chính việc không có những sự đe dọa thường xuyên là điều mà Tracy khó làm quen nhất. Giờ đây không có ai đe dọa nàng cả.
Và nàng được tự do thực hiện kế hoạch trả thù của mình. Ở Philadelphia, Charles Stanhope III thấy Tracy trên màn ảnh ti vi, đang rời nhà tù. Nàng vẫn đẹp, anh ta nghĩ. Nhìn nàng người ta không thể tin rằng đã từng phạm tội. Anh ta nhìn sang cô vợ mũm mĩm của mình đang ngồi bình thản kia, khâu vá gì đó.
Mình e rằng mình đã phạm sai lầm. Charles nghĩ thầm.
Daniel Cooper thấy Tracy trên bản tin truyền hình buổi tối trong căn phòng của ông ta ở New York, và hoàn toàn thờ ơ với việc cô ta được ra tù. Ông ta tắt ti vi và tiếp tục với cái hồ sơ mà đang xem xét.
Joe Romano xem ti vi và hắn cười lớn. Whitney quả là một con chó may mắn. Chắc hẳn nhà tù đã dạy cho nó nhiều. Giờ nó mới thực sự ngon lành đây.
Có ngày ta sẽ gặp nhau.
Romano tự thấy, hài lòng với mình. Hắn đã chuyển bức tranh của Renoir cho đồng bọn, và nó đã được bán lại cho một người sưu tầm ở Zurich. Năm trăm nghìn lấy từ công ty bảo hiểm, và hai trăm nghìn nữa từ đồng bọn. Dĩ nhiên là hắn đã chia chác với Anthony Orsatti. Romano rất thận trọng việc này bởi hắn từng thấy những gì xảy ra đối với những ai xử sự không biết điều trong các giao dịch với Orsatti.
Buổi trưa ngày thứ hai đã hẹn, Tracy trong hình dáng của Lureen Hartford quay lại ngân hàng First Merchants New Orleans. Vào giờ đó, khách hàng đông nghẹt, có tới dăm bảy người đang đứng trước ô cửa của Lester. Tracy đứng vào hàng, và khi thấy nàng, Lester tươi cười gật đầu Nàng thậm chí còn đẹp hơn nhiều so với hình ảnh mà Lester ghi nhớ.
Lát sau, khi Tracy đã tới trước ô cửa, Lester vồ vập. “Thật chẳng dễ dàng gì, song tôi đã 1àm được cho cô đấy, Lureen”.
Một nụ cười ấm áp, biết ơn sáng lên trên gương mặt Tracy. “Ông thật quá tuyệt vời”.
“Thưa vâng, có đấy”. Lester mở một ngăn kéo lấy ra hộp séc đã cất cẩn thận và đưa ra. “Đây. Bốn trăm tấm séc trắng, đủ chứ?”.
“Ồ, quá đủ rồi, trừ phi ông Romano chỉ có ngồi miệt mài viết séc thôi”.
Lester cảm thấy rạo rực. “Tôi tin rằng con người phải xử đẹp với nhau, cô có tin vậy không, Lureen?”.
“Ồng hoàn toàn đúng, ông Lester”.
“Cô biết đấy, cô nên mở một tài khoản riêng ở đây. Tôi sẽ quan tâm thật chu đáo cho cô. Thật chu đáo”.
“Tôi tin là ông sẽ làm thế”, giọng Tracy mềm mại.
“Tại sao ta lại không bàn chuyện này trong một bữa ăn chiều yên ả ở đâu đó được nhỉ?”.
“Chắc là tôi sẽ thích thế”.
“Tôi có thể gọi điện cho cô chứ, Lureen?”.
“Ồ, tôi sẽ gọi cho ông, ông Lester,” và nàng bước đi.
“Đợi một phút ...”.
Người khách tiếp theo bước tới và chìa cho Lester đang thất vọng một túi đầy tiền xu.
Ngay giữa gian phòng lớn của nhà băng có bốn chiếc bàn, trên đó là các hộp chứa các phiếu gửi và rút tiền, và các bàn này bao giờ cũng đầy người bận rộn ghi vào các phiếu đó. Tracy đi vòng tránh khỏi tầm nhìn của Lester.
Và khi một người khách vừa rời khỏi bàn thì Tracy liền ngồi ngay xuống.
Cái hộp mà Lester trao cho nàng chứa tám tập séc trắng. Thế nhưng không phải là Tracy quan tâm tới những tấm séc mà là những phiếu gửi tiền ở phía dưới những tập séc đó.
Nàng cẩn thận lựa chọn những tấm phiếu gửi tiền ra khỏi các tập séc và chưa đầy ba phút sau, đã có trong tay tám mươi tấm. Khi cầm chắc là không có ai để ý, nàng đặt hai mươi tấm này vào chiếc hộp trên bàn.
Nàng chuyển sang bàn bên và đặt vào đó hai mươi tấm phiếu nữa, Sau ít phút, số phiếu còn lại được đặt nốt lên hai chiếc bàn kia. Các tấm phiếu gửi tiền đều mới nguyên, chưa ghi gì cả, song mỗi tấm phiếu, ở phía dưới đều mang một mã số từ tính mà máy tính dùng để chuyển vào các tài khoản thích hợp. Ai gửi tiền thì không quan trọng bởi vì do mã số từ tính này, máy tính sẽ tự động chuyển các khoản tiền gửi vào tài khoản của Romano. Từ kinh nghiệm làm việc ở nhà băng, Tracy biết rằng chỉ trong hai ngày thì số phiếu gửi tiền của Romano mà nàng đặt ở đó sẽ được dùng hết và phải ít nhất là năm ngày thì sự nhầm lẫn này mới có thể bị phát hiện. Vậy lả quá đủ thời gian cho nàng thực hiện kế hoạch.
Trên đường về khách sạn, Tracy ném số séc trắng vào thùng rác. Ông Joe Romano sẽ không cần tới chúng nữa.
Điểm dừng tiếp theo của Tracy là hãng vận chuyển du lịch New Orleans.
Người phụ nữ trẻ ngồi sau bàn hỏi.
“Tôi có thể giúp gì cô?”.
“Tôi là thư ký của ông Joseph Romano, và ông muốn đi Rio de Janeiro vào thứ sáu này”.
“Một vé?”.
“Vâng Hạng nhất. Một ghế đặc biệt được hút thuốc lá?”.
“Khứ hồi?”.
“Một chiều”.
Cô nhân viên quay sang chiếc máy tính đặt trên bàn.
Ít phút sau cô ta nói “Chúng ta đã được việc. Một chỗ hạng nhất trên chuyến bay 728 của Pan American, khởi hành lúc 6 giờ 35 chiều thứ sáu, có dừng ở Miami”.
“Ông ấy sẽ rất hài lông”, Tracy nói.
“Tất cả là một nghìn chín trăm hai mươi chín đô la. Trả bằng tiền mặt hay làm hóa đơn?”.
Ông Romano luôn trả bằng tiền mặt lúc nhận hàng. Chị có thể cho chuyển chiếc vé tới văn phòng ông ấy vào thứ năm này không”.
“Nếu cô muốn vậy”.
“Thứ năm, lúc 11 giờ, được không?”.
“Vâng! Địa chỉ?”.
“Ông J. Romano, 217 phốPoydras, phòng 408”.
Cô nhân viên ghi lại. “Rất tốt. Tôi sẽ cho chuyển tới vào trưa thứ năm này”.
Đúng 11 giờ”. Tracy thêm. “Xin cảm ơn chị”.
Cách đó nửa dãy nhà là một cửa hàng hành lý thượng hạng. Tracy xem xét số hàng trưng bày trong tủ kính trước khi bước vào bên trong.
Một nhân viên lại gần. “Xin chào. Liệu tôi có thể giúp gì cô?”.
“Tôi muốn mua một vài thứ hành lý cho chồng tôi”.
“Bà đến đúng chỗ rồi. Chúng tôi biết phục vụ ở đây hiện có một số hàng đẹp, và không đắt”.
“Không”. Tracy nói. “Tôi không muốn thứ rẻ tiền”.
Nàng bước tới chổ bày những chiếc vali Vuitton kê sát tường.
“Còn hơn cả thứ tôi muốn tìm. Chúng tôi có một chuyến đi xa”.
“Ồ, tôi tin là ông ấy sẽ rất hài lòng với một trong số những chiếc vali này, Chúng tôi có ba cỡ khác nhau. Cỡ nào sẽ là ...”.
“Tôi lấy mỗi loại một chiếc”.
“Ồ, tuyệt Thanh toán bằng hóa đơn hay trả ngay?” “COD” Tên Joseph Rmano. Ông có thể chuyển chúng tới văn phòng của chồng tôi vào sáng thứ năm này không “Sao cơ, chắc chắn là thế rồi, thưa bà Romano”.
“Đúng 11 giờ nhé?”.
“Tôi sẽ lo việc đó”.
Và như cân nhắc, Tracy nói thêm. “Ôi ... ông có thể in các chữ cái đầu tên ông ấy lên đó không, mạ vàng ấy?
Chữ J.R ...
“Tất nhiên. Chúng tôi rất vui lòng, thưa bà Romano”.
Tracy mỉm cười và đưa cho ông ta địa chỉ cần thiết.
Tới một bưu điện gần đấy, Tracy gửi một bức điện trả tiền ngay đến khách sạn Rio Othon Place ở Copacabana, Rio de Janeiro. Bức điện viết:
YÊU CẦU MỘT PHÒNG HẠNG NHẤT, BẮT ĐẦU TỪ THỨ SÁU NÀY, TRONG HAI THÁNG, ĐỀ NGHỊ BÁO LẠI BẰNG ĐIỆN TÍN. JOSEPH ROMANO, 217 PHỐ POYDRAS, PHÒNG 408, NEW ORLEANS, LOUISIANA, USA.
Ba ngày sau Tracy gọi điện thoại tới nhà băng xin nói chuyện với Lester Torrance. Khi nghe thấy giọng ông ta, nàng dịu dàng, “Có thể là ông đã quên tôi rồi, ông Lester, đây là Lureen Harford, thư ký của ông Romano và ...”.
Không nhớ cô ta? Giọng ông ta sốt sắng. “Chắc chắn là tôi nhớ cô Lureen.
Tôi ...”.
“Thật à? Tôi thật lấy làm hãnh diện. Ông phải gặp bao nhiêu người hàng ngày?”.
“Song không ai giống cô cả”, Lester cam đoan. “Cô chưa quên việc chúng ta hẹn ăn cơm chiều với nhau chứ?”.
“Ông thật không biết tôi mong chờ dịp đó thế nào. Thứ ba này liệu có tiện cho ông không, ông Lester?”.
“Tuyệt”.
“Vậy là hẹn nhé. Ôi, tôi thật ngớ ngẩn quá. Nói chuyện với ông thật là hồi hộp nên suýt quên mất việc phải hỏi. Ông Rơmano bảo tôi kiểm tra lại cán cân thu chi trong tài khoản của ông ấy. Ông có thể cho tôi biết con số đó không “Được chứ. Không có gì phiền phức cả”.
Bình thường thì Lester Torrance đã phải hỏi về ngày sinh hoặc một thông tin nào đó để xác định người gọi, song trong trường hợp này thì điều đó chẳng cần thiết.
“Cầm máy, Lureen” ông ta nói.
Ông ta bước lại chỗ hồ sơ, rút tấm phiếu của J.Romano, và ngạc nhiên. Có một số tiền gửi khác thường vào tài khoản của Romano trong vài ngày qua. Từ trước tới giờ chưa khi nào Romano để nhiều tiền trong tài khoản đến thế. Lester Torrance băn khoăn, không biết chuyện gì mà lạ vậy. Rỡ ràng chuyện lớn đây.
Khi nào ăn chiều với Lereen Harford, ông phải mời cô về chuyện này. Một chút thông tin từ nội bộ chẳng bao giờ là thừa cả. Ông ta quay lại bên máy điện thoại.
“Ông chủ cơ đã làm chúng tôi bận bịu đấy”, ông ta bảo Tracy “Có trên ba trăm nghìn trong tài khoản tiết kiệm”.
“Ô, tốt. Đó cũng là con số mà chúng tôi có”.
“Liệu ông ấy có muốn chuyển sang tài khoản kinh doanh không? Tiền nằm đây thì cũng chẳng mang lại lời lãi gì và tôi có thể ...”.
“Không. Ông ấy muốn giữ nguyên ở đó”. Tracy nói.
“Tốt thôi”.
“Cảm ơn ông nhiều, ông Lester. Ông thật là một người dễ thương”.
“Đợi một phút. Tôi sẽ gọi cô tại văn phòng để hẹn cụ thể cho chiều thứ ba chứ?”.
“Tôi sẽ gọi ông, bạn thân mến”. Tracy đáp.
Và nàng gác máy.
Tòa nhà cao tầng hiện đại mà Anthony Orsatti sở hữu đứng sừng sững trên phố Poydras ở khoảng giữa bờ sông và công trình khổng lồ mái vòm Louislana.
Văn phòng của công ty xuất nhập khẩu Thái Bình Dương chiếm toàn bộ tầng thứ tư của tòa nhà. Đầu đằng này là khu phòng làm việc của Orsatti và đầu kia là các phòng của Joe Romano. Khoảng giữa là của bốn cô tiếp tân trẻ trung những cô gái luôn có mặt vào các buổi tối để mua vui cho bạn bè và các mối làm ăn của Orsatti. Trước phòng của lão có hai gã đàn ông lực lượng ngồi canh, và mạng sống của hai gã này có thể được hy sinh để bảo vệ ông chủ chúng. Hài gã cũng kiêm luôn cả tài xế, người đấm bóp và chạy việc vặt.
Vào sáng thứ năm đó, Orsatti ngồi trong phòng làm việc của lão, đang kiểm tra lại các khoản thu hôm trước từ trò sổ số điện tử, cá cược đua ngựa, mãi dâm, và một tá các hoạt động sinh lợi khác mà công ty xuất nhập khẩu Thái Bình Dương này kiểm soát.
Anthony Orsatti độ chừng cuối tuổi sáu mươi, có dáng người quái lạ với tấm thân to và nặng nề còn đôi chân thì ngắn và gầy nhẳng, như được tạo ra cho một người nhỏ hơn. Khi đứng dậy, lão trông như một con ếch đang ngồi.
Bộ mặt lão chằng chịt vết sẹo, giống như cái mạng do một con nhện say rượu chẳng nên, với cái miệng rộng ngoác và cặp mắt đen hơi lồi. Lão hói đầu từ tuổi mười lăm, sau một lần bị rụng hết tóc, và dùng tóc giả từ đó. Bộ tóc giả này thật chẳng hợp với lão chút nào, song ngần ấy năm tháng qua không ai dám nói tới điều đó trước mặt lão.
Mắt lão lạnh lùng, là cặp mắt của kẻ cờ bạc, chẳng bao giờ bỏ lọt cái gì, và bộ mặt lão, trừ khi ở bên năm đứa con gái mà lão yêu quý, lúc nào cũng lạnh tanh. Dấu hiệu duy nhất gắn liền với cảm xúc của Orsatti là giọng nói. Lão có giọng khản đặc, lại the thé, hậu quả của một sợi dây siết chặt cổ họng vào ngày sinh nhật lần thứ hai mươi mét của lão - và rồi lão đã bị bỏ mặc chờ chết. Hai gã giết thuê đã phạm sai lầm này được khiêng vào nhà xác ngay tuần lễ sau đó.
Một khi Orsatti thực sự giận dữ, giọng nói của lão trầm xuống như một tiếng thì thầm bị bóp nghẹt, khó mà có thể nghe thấy được.
Anthony Orsatti là một ông vua trị vì vương quốc của mình bằng hối lộ, súng đạn và tống tiền. Lão cai quản cả New Orleans và sự giàu có của lão thì không kể xiết. Các ông trùm của gia đình Mafia khác trên khắp Hoa Kỳ kính nể lão và thường xuyên tìm kiếm lời khuyên bảo của lão.
Vào lúc này, Anthony Orsatti đang trong tâm trạng vui vẻ Lão mới ăn sáng với tình nhân, ả đàn bà mà lão giữ trong căn hộ của một tòa nhà mà lão là chủ ở bên hồ Vista. Lão tới với ả ba lần một tuần, và sáng nay thì đặc biệt hài lòng. Ả làm với lão trên giường những trò mà mọi người đàn bà khác khó lòng hình dung ra được, và Orsatti thực bụng tin rằng đó là vì ả yêu lão ghê gớm. Tổ chức của lão hoạt động trôi chảy, bởi lẽ Anthony Orsatti biết cách giải quyết những khó khăn trước khi chúng biến thành những rắc rối. Lão đã có lần giải thích cái triết lý của mình cho Romano. “Đừng bao giờ để một khó khăn nhỏ trở thành một cái rắc rối lớn, Joe, nếu không thì nó sẽ phình ra như quả cầu ấy. Anh có một thủ hạ nào đó bắt đầu nghĩ rằng nó phải được chia phần lớn hơn, anh cho nó lặn luôn, hiểu không. “Sẽ chẳng còn quả cầu tuyết nào nữa. Hay anh gặp một thằng ngu nào đó ở Chicago. Đòi được mở một hoạt động nhỏ nào đó ở đây, tại New Orleans này. Anh phải hiểu ngay rằng các hoạt động nhỏ kia sẽ trở thành một hoạt động lớn và làm hụt lợi nhuận của anh. Vậy anh nói đồng ý và khi hắn đến đây, anh cho tiêu luôn cái thằng chó đẻ ấy đi. Không còn quả cầu tuyết nào nữa. Hình dung ra bức tranh chưa hả?”.
Joe Romano đã hình dung được.
Anthony Orsatti yêu quý Romano. Với lão, hắn như một đứa con trai vậy, Orsatti đã nhặt hắn từ khi hắn còn là thằng nhãi con bụi đời và đã rèn cặp để giờ đây thì hắn đã khá cứng cáp. Hắn tinh ranh, và Lại thành thật. Trong mười năm Bomano đã leo lên địa vị phó, giám sát toàn bộ các hoạt động của gia đình và chỉ phải báo cáo cho Orllatti.
Lucy, thư ký riêng của Orsatti, gõ cửa rồi bước vào. Cô ta hai mươi bốn tuổi, tết nghiệp đại học, với gương mặt và thân hình đã từng giành chiến thắng trong vài cuộc thi hoa hậu vùng. Orsatti vốn thích có những cô gái trẻ đẹp vây quanh mình.
Lão nhìn đồng hồ trên bản, 10 giờ 45. Đã bảo Lucy là không muốn bị quấy rầy cho tới trưa kia mà, lão cáu kỉnh. “Cái gì?”.
“Tôi xin lỗi vì đã quấy rầy, ngài Orsatti. Có một cô Gìgi Dupres nào đó gọi tới. Cô ta có vẻ bị kích động, nhưng nhất định không chịu nói với tơi là muốn gì. Cô ta khăng khăng đời nói trực tiếp với ngài. Tôi nghĩ rằng có chuyện gì dó quan trọng”.
Orsatti ngồi yên, những cái tên vùn vụt trôi qua óc lão Gigi Dupres? Một trong những cô ả mà lão đã đưa vào phòng lần tới Las Vegas mới rồi chăng?
Gigi Dupres? Lão không nhớ nổi cái tên đó, vậy mà lão vẫn tự hào là cái dầu của lão không bao giờ quên cái gì. Vì tò mò, Orsatti nhấc máy lên và vẫy tay cho Lucy ra ngoài.
“Hả, ai đấy?”.
“Đó có phải ngài Anthony Orsatti không?”.
Cô ta nói giọng Pháp.
“Có chuyện gì?”.
“Ôi, ơn Chúa là tôi đã gặp được ngài, ngài Orsatti!”.
Lucy nói đúng. Con mẹ quả đang bị kích động.
Anthony Orsatti không muốn quan tâm. Lão định gác máy thì cô ta tiếp tục.
“Xin ngài chặn ngay ông ta lại”.
“Cô gái, tôi không hiểu cô đang nới về ai, và tôi rất bận ...”.
“Về Joe của tôi, Joe Romano. Ông ấy hứa sẽ mang tôi đi cùng, ngài có hiểu không?”.
“Này, có chuyện gì với Joe thì hãy nói với anh ta. Tôi không phải bảo mẫu của hắn”.
“Ông ấy nói dối tôi? Tôi mới phát hiện rằng ông ấy sẽ đi Brazil mà không cho tôi đi cùng. Một nửa số ba trăm ngàn đô la đó là của tôi”.
Tới lúc này thì Anthony Orsatti đã quan tâm tới câu chuyện. “Cô nói ba trăm ngàn nào vậy?”.
“Số tiền mà Joe cất giữ trong tài khoản của ông ấy chứ còn gì nữa. Khoản tiền mà ông ấy nói thế thế nào nhỉ? À, chớp được”.
Anthony Orsatti trở nên rất quan tâm.
“Xin ngài bảo Joe phải cho tôi cùng đi Brazil với ông ấy. Xin ngài! Ngài sẽ làm thế chứ?”.
“Được” Anthony Orsatti hứa. “Tôi sẽ lưu ý việc này”!.
Phòng làm việc của Joe Romano rất hiện đại, toàn màu trắng, do một trong những nhà trang trí nội thất nổi tiếng nhất New Orleans trình bày. Những mảnh màu duy nhất là ba bức họa của trường phái ấn tượng Pháp treo trên tường.
Romano rất tự hào về óc thẩm mỹ của mình. Hắn đã phải lăn lộn suốt, bắt đầu từ các khu nhà ổ chuột của New Orleans, và trên con đường đó hắn đã học được nhiều. Hắn biết thưởng thức đôi chút đối với cả hội họa lẫn âm nhạc. Và hắn cũng rất rành về các loại rượu trên đời này. Nếu sự thực là Anthony Orsatti sở hữu vùng New Orleans này thì sự thực cũng lại là Joe Romano điều hành nó cho lão già.
Thư ký của hắn bước vào. “Thưa ông Romano, có người chuyển tới một chiếc vé đi Rio de Janeiro. Tôi sẽ viết séc chứ ạ? COD mà”.
“Rio de Janeiro?” Romano lắc đầu. “Bảo anh ta biết là có sự nhầm lẫn gì đó”.
Người giao hàng đứng lấp ló ở ngưỡng cửa. “Tôi được Bai mang tới cho ông Joseph Romano ở địa chỉ này mà”.
“Ô, người ta đã bảo anh sai. Cái gì vậy, một trò quảng cáo mới của ngành hàng không chăng?”.
“Không thưa ngài. Tôi ...”.
“Đưa xem nào”. Romano cầm tấm vé từ tay người giao hàng. “Thứ sáu. Tại sao tôi lại phải đi Rio vào thứ sáu nhỉ!”.
Đó là một câu hỏi hay đấy”. Anthony Orsatti nói. Lão đã đứng ngay sau người giao hàng. “Tại sao lại phải đi thế, Joe?”.
“Một nhầm lẫn ngớ ngẩn nào đó, Thony”. Romano đưa trả chiếc vé cho người giao hàng. “Mang nó về nơi cũ của nó và ...”.
“Đừng nhanh quá thế”. Anthony Orsatti cầm lấy chiếc vé, xem xét. “Một chiếc vé hạng nhất, ghế đặc biệt, được hút thuốc, đi Rio de Janeiro vào thứ sáu.
Một chiều?”.
Joe Romano cười lớn. Ai đó đã nhầm lẫn”. Hắn quay sang cô thư ký.
“Madge, gọi cho đại lý vận chuyển và bảo rằng họ là một lũ ngốc. Một gã ngớ ngẩn tội nghiệp nào đó sắp mất toi chiếc vé rồi”.
Joleen, thư ký phụ bước vào. “Xin lỗi, thưa ông Romano. Hành lý đã tới.
Ông có cho phép tôi ký nhận không ạ?”.
Joe Romano lừ mắt nhìn cô ta. “Hành lý nào? Tôi không đặt mua bất kỳ thứ gì cả”.
“Bảo họ mang vào đây”, Anthony Orsatti ra lệnh. “Lạy Chúa”. Joe Romano nói. “Mọi người đã hóa điên cả rồi hay sao không biết”.
Một người giao hàng bước vào mang theo ba chiếc va li Vuitton.
“Thế này là thế nào? Tôi chưa bao giờ đặt mua những thứ đó cơ mà”.
Người kia kiểm tra lại phiếu giao hàng. “Phiếu viết là ông Joseph Romano, phố Poydas, phòng 408, phải không ạ?”.
Joe Romano mất bình tĩnh. “Tao không quan tâm nó viết cái mẹ gì. Tao không đặt mua. Mang đi ngay”.
Orsatti xem xét mấy chiếc va li. “Họ in cả chữ cái đầu tên của anh lên đây mà, Joe”.
“Cái gì? Ồ đợi một phút? Có khi là một thứ quà tặng gì đó.
“Hôm nay sinh nhật anh à?”.
“Không. Song ông biết bọn đàn bà đấy, Tony. Họ luôn luôn tặng quà cho cánh đàn ông”.
“Anh có chuyện gì ở Brazil thế”. “Anthony Orsatti căn vặn. Brazil?” Joe Romano cười lớn. “Đây có thể là sự đùa bỡn của một kẻ nào đó. Tony”.
Orsatti mỉm cười lịch thiệp, rồi quay sang mấy cô thư ký và hai người giao hàng, nói nhẹ. “Ra ngoài”.
Khi cánh cửa đã đóng lại sau lưng họ, Anthony Orsatti lên tiếng. “Joe, anh có bao nhiêu tiền gửi trong tài khoản nhà băng Joe Romano nhìn lão ngạc nhiên.
“Tôi không rõ. Một nghìn năm trăm, tôi đoán chừng vậy, có thể là một hai nghìn gì đó, sao cơ?
“Không có gì, sao anh không gọi tới nhà băng kiểm tra lại xem?”.
“Để làm gì? Tôi ...”.
“Kiểm tra xem sao, Joe”.
“Được thôi. Nếu điều đó làm ông vui lòng”. Hắn bấm chuông gọi thư ký.
“Cho tôi nói chuyện với kế toán trưởng của ngân hàng First Merchant”.
Một phút sau chị ta đã chờ ở đầu dây kia.
“Chào người đẹp. Joseph Romano đây. Cho tôi biết cán cân tiền mặt hiện nay trong tài khoản của tôi nào. Ngày sinh của tôi là 14 tháng Mười”.
Anthony Orsatti cầm ống nghe của chiếc máy phụ.
Một lát sau, người kế toán trưởng đã trở lại trên máy.
“Xin lỗi đã để ông phải chờ, ông Romano. Cho tới sáng nay, trong tài khoản của ông có ba trăm mười ngàn chín trăm lẻ năm đô la và ba mươi lăm xu”.
Romano tái mặt. “Bao nhiêu?”.
“Ba trăm mười ngàn chín trăm lẻ năm ...”.
“Đồ ngu như lợn?” Hắn quát lên. “Tao không cần ngần ấy tiền trong tài khoản của mình. Mày nhầm rồi. Cho tao nói chuyện với ...”.
Hắn thấy cái ống nghe bị nhấc khỏi tay, và Anthony Orsatti đã gác nó xuống máy. “Tiền đó ở đâu ra thế, Joe?”.
Mặt Joe Romano xanh nhợt. “Thề có Chúa, Tony, tôi không hề biết tý gì về số tiền đó”.
“Không à?”.
“Trời, ông phải tin tôi? Ông có biết chuyện gì đang xảy ra? Kẻ nào đó đang chơi tôi”.
“Phải là một người rất thích anh. Hắn tặng anh một, món quà tống tiễn tới ba trăm ngàn đô la”.
Orsatti nặng nề ngồi xuống chiếc ghế bành kiểu scalamander bọc lụa và nhìn Joe Romano hồi lâu, rồi nói rất bình thản. “Tất cả đã được thu xếp, hả? Chiếc vé một chiều đi Rio, hành lý mới ... Có vẻ như anh đang chuẩn bị cho một cuộc sống mới ấy nhỉ”.
“Không!” Vẻ hết hoảng lộ rõ trong giọng nói của Joe Romano. “Lạy Chúa, ông biết tôi rõ hơn thế nhiều, Tony.
Tôi đã luôn luôn đúng mực với ông. Với tôi, ông như một người cha”. Hắn toát mồ hôi. Có tiếng gõ cửa, và Madge ló đầu vào, chìa ra một chiếc phong bì.
“Tôi xin lỗi vì đã đường đột, ông Romano. Có một bức điện gửi cho ông, nhưng mà ông phải tự ký nhận nó”.
Với bản năng của một con thú bị sa bẫy, Joe Romano đáp, Lúc khác. Tôi đang bận”.
“Tôi sẽ nhận cho”, Anthony Orsatti nói và lão đã rời chiếc ghế trước khi cô thư ký kịp khép cửa. Lão đọc bức điện kỹ càng, rồi nhìn Joe Romano chằm chằm.
Bằng giọng trầm đục mà Romano khó có thể nghe được Anthony Orsatti nói “Tôi sẽ đọc cho anh nghe, Joe”. VUI LÒNG GHI NHẬN VIỆC NGÀI ĐẶT THUÊ CĂN HỘ CÔNG CHÚA CỦA CHÚNG TÔI TRONG HAI THÁNG BẮT ĐẦU TỪ THỨ SÁU, NGÀY MỒNG MỘT THÁNG CHÍN. Dưới ký.
MONTALBAND, GIÁM ĐỐC, RIO OTHON PLACE, RIO DE JANEIRO. Đó là căn buồng anh đặt mà, Joe. Anh sẽ không cần tới nó nữa, có phải không?”
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
eldelerag (13-08-2015), JosephNulk (01-12-2014)
Old 25-08-2006, 04:37 PM   #7
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 3
Nàng cần có thời gian. Thời gian để suy nghĩ để tính toán việc phải làm.
Không thể chịu nổi việc trở lại sống ngôi nhà đã bị cướp nhẵn, do vậy, nàng vào một khách sạn nhỏ trên đường Magazỉna, xa khu người Pháp, nơi những cuộc diễu hành đlên loạn vẫn đang tiếp diễn. Nàng không có hành lý gì cả, và người nhân viên đa nghi ngồi sau bàn đã nói. “Cô sẽ phải trả tiền trước. Bốn mươi đô la một đêm”.
Từ phòng riêng, nàng gọi điện thoại cho Clarence Dosmond để nói với ông ta rằng mình không thể tới làm việc trong một vài ngày.
Ông ta giấu nỗi bực dọc vì bị phiền toái. “Đừng bận lòng vì chuyện Đó. Tôi sẽ kiếm ra người thay thế cho tới khi cô trở lại”. Ông ta hy vọng là nàng sẽ kể lạl với Charles Stanhope rằng ông ta đã tỏ ra thông cảm thế nào.
Cú điện thoại tiếp theo của Tracy là cho Charles. “Charles, anh yêu ...”.
“Em ở chỗ quỷ quái nào thế, Tracy? Mẹ đã tìm kiếm em suốt cả buổi sáng.
Bà muốn ăn trưa với em hôm nay, cả hai còn nhiều việc lắm”.
“Em xin lỗi, anh yêu dấu. Em đang ở New Orleans”.
“Em ở đâu? Em đang làm cái gì ở New Orleans vậy?”.
“Mẹ em ... chết”. Nàng nghẹn lời.
Hả”. Giọng anh thay đổi ngay tức khắc. “Anh xin lỗi, Tracy:
Chuyện đột ngột quá. Bà vẫn còn trẻ trung, có phải không?”.
Bà còn rất trẻ, Tracy nghĩ cay đắng. “Vâng, Đúng là bà còn trẻ”.
“Chuyện gì đã xảy ra? Em không sao chứ?”.
Không biết tại sao Tracy không thể nói thật với Charles rằng Đó là một vụ tự sát. Nàng mong muốn đến khủng khiếp được kể ra tất cả câu chuyện kinh hoàng này, song đã tự ngăn mình lại. Đó là việc của mình, nàng không thể buộc Charies mang gánh nặng Đó được. “Đừng lo lắng gì, em không sao, anh yêu ạ”.
“Em có muốn anh tới Đó không, Tracy?”.
“Không. Cám ơn anh. Em có thể lo liệu được. Em sẽ trở lại Phlladelphia vào thứ hai”. Gác máy, nàng nằm xuống giường với những ý nghĩ miên man. Nàng đếm những ô vuông lát trên trần nhà. Một ... Hai ... Romano ... Bốn ... Năm ...
Romano ... Sáu ... Bảy ... hắn sẽ phải đền tội. Nàng chưa có một kế hoạch cụ thể, chỉ biết rằng sẽ không để Romano thoát khỏi, rằng nàng sẽ tìm cách báo thù cho mẹ.
Tracy rời khách sạn vào lúc cuối chiều và đi bộ dọc đường Canal cho tới khi gặp một tiệm cầm đồ. Một người đàn ông vẻ mặt tái tál mang kính che mắt màu lục kiểu cổ ngồi trong cái lồng sắt sau quầy hàng.
“Muốn gì?”.
“Tôi ... muốn mua một khẩu súng”.
“Loại súng gì?”.
“Ông biết đấy ... một ... súng lục”.
“Cô muốn cỡ 32, cỡ 4d, hay ...”.
Tracy chưa từng sờ đến súng. “Một ... một khẩu cỡ 32 là được”.
“Ở đây tôi có khẩu Smithanđ Wesson cỡ 32 rất hay với giá hai trăm hai mươi chín đô la và một khẩu Charter Arma cỡ 32 vớl giá một trăm năm mươi chín ...”.
Nàng không mang theo người nhiều tiền mặt. “Ông có thứ gì rẻ hơn không?”.
Ông ta nhún vai, “Rẻ hơn thì chỉ là ... súng cao su thưa tiểu thư. Nói với cô sao nhỉ. Tôi sẽ để cho cô một khẩu cỡ 32 với giá một trăm năm mươl đôla, và tôi sẽ thêm cho một hộp đạn”.
“Được”, Tracy nhìn theo ông ta bước tới giá vũ khí đặt trên cái bàn phía sau, lựa ra một khẩu súng ngắn. Ông ta cầm nó tới quầy hàng. “Cô biết sử dụng chứ?”.
“Thì ... thì kéo cò chứ gì?”.
Ông ta làu bàu. “Cô có muốn tôi lắp đạn vào để cô coi thử không?”.
Nàng định nói không, rằng sẽ không dùng đến nó, rằng chỉ muốn đe đọa ai Đó, nhưng chợt nhận ra như vậy thật ngốc nghếch. “Vâng, xin ông”.
Tracy chăm chú nhìn ông ta nạp đạn vào trong ổ, “Cảm ơn”, và đếm tiền trả.
“Tôi cần tên và địa chỉ của cô cho hồ sơ cảnh sát”.
Tracy chưa nghĩ tới điều đó. Đe dọa Joe Romanc với một khẩu súng là một hành vi phạm tội. Nhưng hắn là một tội phạm chứ không phải mình nàng nghĩ “Tên?”.
“Smith. Joan Smlth”.
Ông ta ghi lên một tấm. phiếu. “Địa chỉ?”.
“Đường Downlan. 3020 đường Dowman”.
Không ngẩng đầu lên, ông ta nói, “Không có số 3020 Dowman. Như vậy sẽ ở giữa sông. Chúng ta hãy cho là 5020 đi”, ông ta đẩy tờ biên nhận tới trước nàng.
Nàng ký Joan Smith. “Thế được chưa?”.
“Đúng thế”. Ông ta cẩn thận đẩy khẩu súng ra bên ngoài. Tracy nhìn nó chằm chằm, rồi cầm lên đút vào trong bóp, quay người và bước nhanh ra khỏi cửa hiểu.
“Này, cô kia”, ông ta kêu theo, Chớ quên khẩu súng Đó đã nạp đạn”. Quảng trường Jackson nằm giữa khu người Pháp, với ngôi nhà thờ Thánh Louis vút cao như một lời cầu nguyện.
Những ngôi nhà cổ đáng yêu và những dinh thự trong khu quảng trường được ngăn cách khỏi dòng xe cộ tấp nập bởi bức tường cao và những cây mộc lan duyên dáng.
Joe Romano sống ở trong một trong những ngôi nhà Đó:
Tracy đợi đến khi trời tối mới bắt đầu khởi sự. Những đám diễu hành đã đi tới đường Chatres và từ xa Tracy vẫn nghe thấy vọng lại sự hỗn loạn mà trước Đó nàng đã bị cuốn vào.
Nàng đứng trong bóng tối xem xét ngôi nhà, và thấy rõ sức nặng của khẩu súng trong bóp. Kế hoạch rất đơn giản. Nàng sẽ tranh luận với Joe Romano, yêu cầu hắn làm trong sạch tên tuổi Doris Whltney. Nếu như hắn từ chối, nàng sẽ đe dọa hắn bằng khẩu súng và bắt hắn phải viết lời thú tội. Rồi nàng sẽ mang nó tới trung úy Mllier, và anh ta sẽ bắt giữ hắn, thanh danh của mẹ sẽ được bảo vệ.
Nàng khát khao có Charles ở bên, song tốt nhất là làm một mình. Nàng sẽ kể lại cho anh sau khi tất cả đã qua đi và Joe Romano đã ở trong tù. Đó là chỗ của hắn. Một khách bộ hành đang lại gần. Tracy chờ cho người đó đi qua và đường phố hoàn toàn vắng lặng.
Tracy bước tới ngôi nhà và nhấn chuông. Không có tiếng trả lời. Có thể hắn đang có mặt tại một bữa tiệc nào Đó nhân dịp lễ Mard Grass. Song mình có thể đợi, Tracy nghĩ, mình có thể đợi cho đến lúc hắn về nhà. Đột nhiên, ngọn đèn ở cổng bật sáng, cánh cổng mở ra và một người đàn ông đứng trước cửa. Diện mạo người này làm Tracy ngạc nhiên. Nàng đã hình dung một khuôn mặt kẻ cướp độc ác, với những nét tàn nhẫn, nham hiểm, quỷ quyệt. Thay vì Đó, lại thấy mình đang đứng trước một người đàn ông có vẻ mặt đẹp đẽ, hấp dẫn mà người ta có thể dễ dàng nhầm là một vị giáo sư đại học. Giọng nói của hắn trầm trầm và tử tế “Xin chào. Tôi giúp gì được chăng.”.
“Ông có phải Joseph Rómano?” Tiếng nàng hơi run.
“Đúng vậy. Tôi có thể làm gì cho cô?” Hắn có một phong cách thoải mái.
không nghi ngờ gì nữa, mẹ mình đã bị gã đàn ông này lừa gạt. Traey nghĩ “Tôi ... Tôi muốn nói chuyện với ông, ông Joe Romano”.
Hắn chăm chú nhìn vóc dáng nàng. “Dĩ nhiên. Mời cô vào”.
Tracy bước vào phòng khách đầy những đồ cổ đẹp đẽ.
Joseph Romano sống khá giả. Bằng đồng tiền của mẹ mình, Traey nghĩ cay đắng.
“Tôi vừa định pha cho mình một ly rượu. Cô thích thứ gì?”.
“Không gì cả”.
Hắn nhìn nàng với vẻ tò mò. “Cô muốn gặp tôi về chuyện gì vậy, cô?”.
“Tracy Whitney. Tôi là con gái của Doris WhitPey”.
Hắn nhìn nàng đăm đắm và rồl đã nhận ra. “Ồ, vâng.
Tôi có nghe về mẹ cô. Tệ quá”.
Tệ quá? Hắn đã gây ra cái chết của mẹ, và lời bình luận duy nhất của hắn là ... “Tệ quá”.
“Ông Romano, ngài công tố quận tin rằng mẹ tôi phạm tội lừa gạt. Ông biết điều đó không Đúng. Tôi muốn ông giúp tôi làm trong sạch tên tuổi của bà”.
Hán nhún vai. “Tôi không làm việc trong dịp lễ Mard Grass. Điều đó trái với tín ngưỡng của tôi”. Romano đi lại chổ quầy rượu và bắt đầu pha hai ly. “Tôi nghĩ rằng cô sẽ dễ chịu hơn sau khi uống một chút”.
Hắn đang đẩy nàng tới chỗ không còn lựa chọn nào khác. Tracy mở bóp và lôi khẩu súng ra, chĩa vào hắn. “Tôi sẽ nói cho ông biết cái gì sẽ làm tôi dễ chịu hơn, ông Romano. Buộc ông phải thú nhận chính xác những gì ông đã làm đối với mẹ tôi”.
Joseph Romano quay lại và thấy khẩu súng. “Cô nên bỏ khẩu súng đi, cô Whitney. Nó có thể nổ đấy”. A!
Nó sẽ nổ nếu ông không làm đúng lời tôi bảo. Ông phải biết rõ ông đã cướp đoạt công ty như thế nào, đẩy nó tới phá sản và dồn mẹ tôi tới chỗ tự sát”.
Lúc này hắn nhìn nàng một cách thận trọng, cặp mắt sẫm màu của hắn toát vẻ cảnh giác. “Tôi biết. Nếu tôi từ chối thì sao?”.
“Thì tôi sẽ giết ông”. Nàng có thể cảm thấy khẩu súng run run trong tay.
“Cô không giống một kẻ giết người, cô Whitney”, giờ đây hắn tiến về phía nàng, trong tay cầm ly rượu. Giọng nói của hắn mềm mại và có vẻ chân tình.
“Tôi không liên quan gì đến cái chết của mẹ cô, và hãy tin tôi ... Tôi ...” Hắn hắt ly rượu vào mặt nàng.. – Tracy thấy cay buốt hai mắt và một tích tắc sau khẩu súng đã bị đánh bật khỏi tay.
“Con mẹ mày vẫn chưa nói hết. Jomano nói. “Mụ ta đã không bảo tao rằng mụ có-một đứa con gái thật khêu gợi”.
Hắn ôm nàng, ghìm chặt hai tay nàng, còn Tracy thì sợ hãi, mắt nhắm nghiền vì cay xè. Nàng cố sức vùng ra, song hắn đẩy nàng vào sát tường, ép chặt vào người nàng.
“Cô bé kể cũng liều lĩnh. Tao thích thế. Nó làm tao thấy khoái”. Giọng hắn khản đặc. Tracy cảm thấy thân thể cứng đờ của hắn ép sát vào, và nàng cố vùng ra song bất lực trong vòng tay của hắn.
“Cô bé tới đây tìm kiếm một chút hứng thú phải không? Ồ, Joe sẽ cho em cái đó”.
Nàng muốn hét lên, song chỉ hổn hển “Buông tôi ra”.
Hắn xé toạc cái áo bờ lu trên người nàng:
“Kìa đôi vú kìa”, hắn thì thào.
Tay hắn vân vê hai núm vú. “Cưỡng lại đi, cô bé”. Hắn vẫn thì thào. “Tao thích thế”.
“Buông tôi ra”.
Hắn siết chặt hơn và làm nàng đau. Nàng cảm thấy mình bị đẩy xuống sàn nhà.
“Tao cược rằng mày chưa từng được làm tình với một thằng đàn ông thực sự”, hắn nói. Lúc này thân hình hắn đè nặng lên Tracy và hai tay hắn đang lần lên hai đùi nàng. Tracy vùng vẫy và đột nhiên chạm phải khẩu súng.
Một tiếng nổ lớn vang lên.
“Ối, lạy Chúa!” Romano hét. Vòng tay hắn bỗng nhiên nới lỏng. Tracy lờ mờ thấy hắn lăn xuống và nằm co trên sàn, tay giữ chặt một bên sườn. “Mày bắn chết tao rồi ... đồ chó đẻ. Mày bắn tao ...”.
Tracy sợ chết khiếp, nàng cảm thấy mình như muốn bệnh, còn hai mắt vẫn buốt nhói. Nàng cố đứng lên và lần tới cái cửa ở phía cuối gian phòng, đẩy toang ra. Đó là một phòng tắm. Nàng loạng choạng tới bên bồn, mở nước lạnh và vã lên mắt cho tới khi bớt đau và nhìn được vào gương. Mắt nàng đỏ ngầu với vẻ hoang dại. Lạy Chúa; mình vừa mới giết người. Nàng trở lại phòng khách.
Joe Romano nằm trên sàn, máu hắn rớt lên trên tấm thảm trắng. Tracy đứng bên, mặt trắng bệch. “Tôi xin lỗi, nàng nói một cách ngớ ngẩn. “Tôi không cố ý”.
“Xe cấp cứu:..” hắn hổn hển.<br
Tracy chạy vội tới điện thoại gọi tổng đài, giọng như tắc nghẽn lại. “Tổng đài, xin gửi tới xe cấp cứu ngay. Số 4201 quảng trường Jackson. Một người đàn ông bị bắn”.
Nàng gác máy và nhìn xuống Romano. Ôi, lạy Chúa, đừng để ông ta chết.
Chúa biết con không có ý giết ông ta.
Nàng quỳ xuống bên cạnh cái thân thể đang nằm trên sàn để xem hắn còn sống không. Hai mắt hắn nhắm nghiền, song hắn vẫn đang thở. “Xe cấp cứu đang đến”. Tracy an ủi.
Nàng bỏ đi.
Nàng kiềm chế không chạy, sợ rằng gây chú ý, quấn chặt áo khoác để che đi áo trong bị rách toạc. Qua được bốn khu nhà, nàng Đón tắc xi. Tới sáu, bảy chiếc lướt qua, với những người khách vui vẻ ở trong xe. Từ xa, Tracy nghe tiếng còi hụ đang tới gần và giây lát sau chiếc xe cấp cứu lao vụt qua, hướng về phía ngôi nhà Romano. Mình phải rời khỏi nơi đây, Tracy nghĩ. Phía trước một chiếc tắc xi dừng lại để khách xuống. Tracy chạy tới. “Có chở khách không?”.
“Còn tùy. Cô đi đâu?”.
“Phi trường”. Nàng nín thở.
“Vào đi”.
Trên đường ra phi trường, Tracy nghĩ tới chiếc xe cấp cứu. Nếu họ quá muộn và Joe Romano đã chết thì sao? Nàng sẽ là kẻ sát nhân. Nàng đã bỏ lại khẩu súng, và dấu tay nàng ở trên đó. Nàng có thể khai với cảnh sát rằng bị Romano cưỡng dâm và khẩu súng bị cướp cò, song họ sẽ chẳng bao giờ tin. Nàng đã mua cái khẩu súng đó. Bao nhiêu thời gian đã qua? Nửa giờ? Một giờ? Phải rời khỏi New Orleans càng sớm càng tốt.
Ngày hội vui chứ?” Người lái xe hỏi.
Tracy nuốt nước miếng, Tôi ... Vâng”. Nàng lấy cái gương nhỏ ra và làm tất cả những gì có thể để lấy lại vẻ mặt bình thường. Nàng đã quá ngốc với việc buộc Joe thú tội Tất cả đã hỏng bét cả. Biết nói với Charles thế nào đây? Nàng biết anh sẽ giật mình, song sau khi nghe giải thích chắc anh sẽ biết phải làm gì.
Khi tắc xi tới phi trường, Tracy băn khoăn tự hỏi, có phải mới chỉ sáng nay mình đã ở đây không nhỉ? Tất cả xảy ra trong một ngày thôi ư? Việc tự sát của mẹ .... nỗi sợ hãi khi bị cuốn vào đám rước ... gã đàn ông hằn học. “Mày bắn tao chết rồi ... đồ chó đẻ ...”.
Bước vào phòng vé, Tracy thấy như mọi người đều, nhìn nàng với vẻ buộc tội. Đó là điều tất nhiên với một lương tâm tội lỗi, nàng nghĩ, giá có cách nào biết về tình trạng của Joe Romano, song không biết hắn được đưa tới bệnh viện nào và phải gọi ãi. Hắn sẽ qua khỏi. Charles và mình sẽ trở lại dự lễ tang mẹ và Joe Romano sẽ khỏe. Nàng cố quên đi hình ảnh người đàn ông nằm trên tấm thảm trắng, máu nhuốm đỏ. Phải nhanh chóng trở về với với Charles.
Tracy tới quầy bán vé hãng hàng không Delta. “Cho tôi một vé chuyến bay gần nhất đi Philadelphia. Du lịch”.
Nhân viên khách vẫn bấm máy tính. “Sẽ có chuyến bay Ba - Không - Bốn.
Cô thật may. Tôi chỉ còn dư một chỗ”.
“Khi nào thì chuyến báy xuất phát?”.
“Hai mươi phút nữa. Cô vừa đủ thời gian ra máy bay”.
Đúng lúc lấv bóp Tracy cảm thấy, chứ không phải là nhìn thấy, hai cảnh sát viên mặc đồng phục bước tới hai bên nàng. Một trong hai người nói. “Cô là Tracy Whltney?”.
Tim nàng ngừng đập trong giây lát. Thật ngớ ngẩn khi chối bỏ điều này, nàng nghĩ. “Vâng”.
“Cô bị bắt”.
Và Tracy cảm thấy chất thép lạnh của chiếc công siết lên hai cổ tay.
Nàng bị đẫn ra khỏi phi trường, tay bị khóa liền với một trong hai cảnh sát, rồi bị đẩy vào đằng sau một chiếc xe cảnh sát sơn màu đen và trắng, có tấm ngăn bằng kim loại giữa băng trước và băng sau. Chiếc xe lao vút ra khỏi đám đông với đèn hiệu màu đỏ nhấp nháy cùng tiếng còi hụ. Nàng co rúm người trong băng ghế sau, cố để khỏi bị nhìn thấy. Nàng là kẻ giết người. Joe Romano đã chết. Song đó chỉ là ngẫu nhiên. Nàng sẽ giải thích việc đã xảy ra. Họ phải tin.
Đồn cảnh sát mà Tracy bị đưa tới nằm trong quận Algiers trên bờ Tây sông New Orleans, một tòa nhà đầy vẻ dọa dẫm, vô vọng. Phòng đợi đầy nghẹt những khuôn mặt rầu rĩ, gái làm tiền, bọn ma cô dẫn gái, và các nạn nhân của chúng. Tracy bị dẫn đến trước bàn trực ban.
Một trong hai người đã bắt giữ nàng báo cáo. “Thưa trung sĩ, cô Whitney.
Chúng tôi đã bắt cô ta tại phi trường khi cô ta đang định tẩu thoát”.
“Tôi không ...”.
“Mở khóa ra”.
Chiếc còng tay được gỡ ra. Tracy cất lời. “Đó là việc chẳng may. Tôi không định giết ông ta. Ông ta toan hãm hiếp tôi.,.” Nàng không nén nổi sự kích động trong giọng nói. Viên trung sĩ trực ban nói cộc cằn. “Cô là Tracy Whitney?”.
“Vâng, tôi ...”.
“ôKhóa tay cô ta lại”.
“Khoan, hãy đợi một chút”, nàng nài xin. “Tôi phải gọi điện thoại cho một người. Tôi ... tôi có quyền gọi điện thoại một lần”.
Viên trung sĩ làu bàu, “Cô biết quy định này hả? Bao nhiêu lần rồi, cô em?”.
Chưa lần nào. Đây là ...”.
“Cô được gọi một lần. Ba phút. Gọi số máy nào?”.
Nàng bối rối đến mức không thể nhớ nổi số điện thoại của Charles. Thậm chí không nhớ cả số mã của Philadelphia. Có phải Hai - năm - một không nhỉ?
Không. Không phải thế. Nàng cảm thấy run rẩy.
“Lẹ lên. Tôi không chờ cả đêm được đâu”.
Hai - một - năm. Đúng thế? “Hai - một - năm - năm - năm - năm - chín - ba - không - một”.
Viên trung sĩ quay máy và trao ống nói cho Tracy.
Nàng nghe tiếng chuông reo. Tiếng chuông reo mãi. Không ai trả lời.
Charles phải có nhà chứ.
Viên trung sĩ nhắc, “Hết giờ”. Anh ta đưa tay cầm ống nghe lại.
“Xin đợi?” Tracy kêu lên. Song nàng bỗng nhớ ra là Charles khóa chuông vào ban đêm để khỏi bị quấy rầy.
Nàng lắng nghe tiếng chuông trống rỗng và nhận ra rằng không có cách nào liên lạc với anh được.
Viên trung sĩ lại hỏi. “Xong chưa?”.
Tracy ngước nhìn anh ta và đáp buồn bã. “Tôi xong rồi”.
Một viên cảnh sát mặc sơ mi trần dẫn Tracy tới một căn phòng để ghi tên và để lấy dấu tay, rồi dẫn qua một hành lang hẹp và nhất nàng vào một buồng giam nhỏ.
“Sáng mai người ta sẽ lấy cung”, viên cảnh sát bảo, rồi bỏ đi.
Không có gì thật trong chuyện này cả. Tracy nghĩ, Tất cả chỉ là một giấc mơ khủng khiếp. Ôi lạy Chúa, xin đừng để chuyện này là sự thực.
Đêm trôi đi chậm chạp như không bao giờ hết. Giá. mình có thể liên lạc với Charles. Nàng cần anh lúc này hơn bất cứ ai nàng đã từng cần trong đời. Mình đáng nhẽ phải nói hết mọi chuyện từ đầu với anh, và chuyện thế này sẽ chẳng bao giờ xảy ra.
Tới sáu giờ sáng, một người gác mệt mỏi mang tới cho Tracy ly cà phê âm ấm và tô cháo bột lạnh lẽo. Nàng không dộng tới. Lòng dạ nàng rối như tơ vò.
Chín giờ, một nữ giám thị đến.
“Đến giờ đi rồi, cô bé”. Chị ta mở khóa buồng giam.
“Tôi cần gọi điện thoại”, Tracy nói. “Tôi rất cần”.
“Sau đã”, chị ta ngắt lời. “Cô không muốn ông thẩm phán phải chờ đợi chứ.
Lão ta là cái đồ chó đẻ đê tiện”.
Chị ta dẫn Tracy theo dọc hành lang, tới phòng xử án.Một viên thẩm phán già đã ngồi sẵn trên ghế. Đầu và tay ông ta luôn giật giật. Trước mặt ông ta là viên chưởng lý, Ed Topper, một người đàn ông dáng nhẹ nhõm ở độ tuổi ngoài bốn mươi với mái tóc muối tiêu và cặp mắt đen lạnh lùng.
Tracy được dẫn tới một cái ghế và giây lát sau tiếng viên mõ tòa vang lên.
“Nhân dân xét xử Traey Whitney”. Viên thẩm phán đọc lướt một tờ giấy trước mặt ông ta, đầu gật gật.
Bây giờ là lúc để nàng giải thích với những người có thẩm quyền thực sự về việc đã xảy ra. Nàng nắm chặt hai tay vào nhau để chúng khỏi run. “Thưa ngài, Đó không phải là một vụ giết người cố ý. Tôi không bắn, mà chỉ muốn dọa ông ta thôi. Ông ta toan hiếp tôi và ...”.
Viên chưởng lý ngắt lời. “Thưa ngài, tôi không thấy cần phải phí phạm thời gian của tòa. Người phụ nữ này đã đột nhập vào nhà ông Romano, vũ trang bằng một khẩu súng cỡ đạn 32, ăn cắp một bức họa Renoir trị giá nửa triệu đôla, và khi bị ông Romano bắt quả tang, cô ta đã bắn ông một cách dã man và bỏ mặc ông nằm chờ chết”.
Mặt Tracy tái đi, “Cái gì? Ông ta đang nói về cái gì vậy?”.
Lời nàng chẳng có ý nghĩa gì.
Viên chưởng lý lớn tiếng, “Chúng tôi có khẩu súng đã bắn bị thương ông Romano. Trên đó có dấu tay cô ta.
Bị thương! Vậy là Joseph Romano còn sống? Nàng đã không giết ai cả.
“Cô ta đã tẩu thoát cùng với bức họa, thưa ngài, có thể giờ đây nó đang ở trong tay một kẻ đồng lõa nào đó bởi vậy tiểu bang này yêu cầu rằng Tracy Whitney phải bị giam giữ vì tội mưu sát và cướp có vũ trang, với khoản tiền thế chân được đặt ra là nửa triệu đô la”.
Viên thẩm phán nhìn sang Tracy, đang ngây ra vì choáng váng. “Cô có luật sư đại diện cho không?”.
Thậm chí nàng không nghe thấy lời ông ta.
Ông ta cao giọng, “Cô có luật sư riêng không?”.
Tracy lắc đầu. “Không. Tôi ... cái ... cái mà người này nói là không đúng. Tôi chưa bao giờ ...”.
“Cô có tiền thuê luật sư không?”.
Có tiền lương của nàng ở nhà băng. Có Charles. “Tôi ... không, thưa ngài, song tôi không hiểu ...”.
“ôTòa sẽ chỉ định một luật sư cho cô. Cô bị buộc tạm giam, trừ phi có năm trăm ngàn thế chân. Vụ tiếp theo”.
“Khoan? Đây hoàn toàn là một sự nhầm lẫn! Tôi không ...”.
Tracy không nhớ nổi mình bị đưa ra khỏi phòng xử án như thế nào.
􀂐 􀂐 􀂐 Tên của viên luật sư mà tòa chỉ định là Perry Pope. Ông ta gần bốn mươi tuổi, gương mặt thông minh song dữ dội và cặp mắt xanh vẻ thông cảm. Tracy lập tức thấy thích ông ta.
Pope bước vào buồng giam, ngồi xuống giường và nói. “Rồi. Cô mới tới thành phố này 24 giờ và đã tạo ra một sự sửng sốt,” Ông ta nối tiếp, “song may là cô bắn rất tồi. Đó chỉ là một vết thương ở phần mềm. Romano sẽ sống”. Ông ta lấy ra cái tẩu. “Không phản đối chứ?” - “Không sao”.
Ông ta nhồi thuốc, châm tẩu và nhìn dò xét Tracy.
“Coi bộ cô không giống những kẻ tội phạm khác, cô Whitney”.
“Tôi không có tội, tôi thề là như thế.
“Tôi tin”. Ông ta đáp. “Kể tôi nghe chuyện xảy ra. Từ đầu. Cứ từ từ”.
Tracy kể lại với ông ta. Tất cả mọi chuyện. Perry Pope ngồi im lặng nghe cho tới khi Tracy kể xong. Rồi ông ta ngả người dựa lưng vào tường buồng giam, nét ưu tư hiện trên mặt. “Đồ khốn nạn”. Pope nói trầm trầm.
“Tôi không hiểu họ nói gì”. Cặp mắt Tracy đầy vẻ rối bời. “Tôi có biết gì về bức họa nào đâu”.
Rất đơn gịản Joe Romano đã dùng cô như một vật hy sinh, cũng giống như đã dùng mẹ cô. Cô đã bước thẳng vào một cái bẫy”.
“Tôi vẫn không hiểu”.
“Vậy để tôi nói rõ cho cô nghe. Romano sẽ đưa một yêu sách bảo hiểm nửa triệu đôla cho bức họa Renoir mà hắn đang cất giấu đâu đó, và hắn sẽ nhận được khoản tiền này. Công ty bảo hiểm sẻ rình rập cô chứ không phải hắn. Khi mọi chuyện đã êm, hắn sẽ bán bức họa và kiếm thêm nửa triệu nữa nhờ vào hành động dại dột của cô. Cô đã nhận ra rằng đòi hỏi sự thú tội với một họng súng là vô nghĩa chưa?”.
“Tôi cũng đã thấy vậy. Tôi chỉ nghĩ nếu buộc được ông ta phải nói lên sự thật, thì người ta sẽ mở một cuộc điều tra”.
Cái tẩu thuốc của Pope tắt ngấm. Ông ta châm lại nó.
“Cô đã vào nhà hắn như thế nào?”.
“Tôi bấm chuông và Romano để tôi vào”.
“Hắn ta không nói vậy. Có một cái cửa sổ bị đập vỡ kính ở phía sau ngôi nhà, và hắn nói rằng cô đã đột nhập vào lối đó Hắn khai với cảnh sát là thấy cô đang chạy ra với bức họa Renoir trên tay và khi hắn cố chặn lại, cô đã bắn hắn và bỏ chạy”.
“Dối trá. Tôi ...”.
“Nhưng đó là lời của hắn khai, nhà của hắn ta, và khẩu súng thì của cô. Có biết là cô đang đương đầu với ai không.
Tracy lắc đầu.
“Vậy để tôi cho biết nhé, cô Whitney. Thành phố này hoàn toàn nằm trong tay gia đình Orsatti. Không có việc gì diễn ra ở đây mà không có sự cho phép của Anthony Orsatti. Nếu cố muốn được phép xây cao ốc, mở một xa lộ, chứa gái, mở sòng bạc hoặc tiệm hút, cô hãy gặp Orsatti. Joe Romano đầu tiên làm kẻ giết thuê cho ông ta. Giờ đây, hắn là một người có thế lực loại nhất trong băng của Orsatti”. Ông ta nhìn nàng một cách băn khoăn. “Thế mà cô đã bước vào nhà Romano và chỉa súng vào hắn”.
Tracy ngồi đó, chết lặng và kiệt sức. Sau cùng nàng hỏi, “Ông có tin vào câu chuyện của tôi không?”.
Ông ta mỉm cười. “Cô hoàn toàn đúng. Thật đáng buồn đó lại là sự thật”.
“Ông có thể giúp tôi không?”.
Ông ta đáp chậm rãi “Tôi sẽ cố. Tôi sẽ làm tất cả để buộc chúng phải ngồi tù.
Chúng nắm cả thành phố này và hầu hết các thẩm phán. Nếu có ra tòa, chúng sẽ chôn vùi cô tới mức chẳng bao giờ cô còn nhìn thấy ánh sáng.
Tracy nhìn ông ta, hoảng hất. “Nếu tôi ra tòa ư?”.
Pope đứng dậy và đi đi lại lại trong căn buồng giam chật hẹp. “Tôi không muốn cô phải đối mặt với bồi thẩm đoàn, vì lẽ, hãy tin tôi, đó sẽ là người của hắn. Chỉ có duy nhất một thẩm phán mà Orssatti chưa bao giờ mua được, đó là ông Henry Lawrence. Nếu như tôi có thể thu xếp để ông ta xử vụ này, tin rằng tôi sẽ giúp được cô nhiều. Kể ra là trái quy định, song tôi có thể nói chuyện riêng với Lawrence. Ông ấy cũng căm ghét Orsatti và Romano giống như tôi.
Lúc này tất cả những gì chúng ta phải làm là liên hệ được với thẩm phán Lawrence”.
Perry Pope đã dàn xếp để Tracy có thể gọi điện cho Charles. Nàng nghe giọng nói quen thuộc của thư ký riêng của Charles. “Văn phòng ngài Stanhope đây”.
“Harriet? Tracy Whitney đây. Có ...?”.
“Ôi! Ông ấy đã tìm cách gặp cô mãi, thưa cô Whitney, song chúng tôi không có số điện thoại của cô. Bà Stanhope cứ sốt ruột muốn bàn chuyện cưới xin với cô đấy Khi nào có thể, cô gọi điện cho bà ngay đi”.
“Harriet, hãy cho tôi nói chuyện với ông Stanhope?”.
“Rất tiếc, cô Whitney. Ông ấy đang trên đường đi Honston dự một hội nghị.
Nếu được biết số máy của cô, tôi tin ông ta sẽ gọi cho cô ngay khi nào có thể”.
“Tôi ...” Làm sao nàng có thể để anh gọi nàng trong tù được. Không thể được, chừng nào nàng chưa giải thích với anh mọi nhẽ.
“Tôi ... tôi sẽ gọi lại cho ông Stanhope”. Nàng từ từ gác máy.
Ngày mai, Tracy nghĩ. Mình sẽ giải thích tất cả cho Charles vào ngày mai.
Chiều hôm đó Tracy được chuyển tới phòng giam lớn hơn. Một bữa chiều nóng sốt và thơm ngon được đưa tới, và sau đó là bó hoa tươi và một tấm thiếp cài trên đó. Tracy mở phong bì, lấy ra tấm thiếp. YÊN TÂM, CHÚNG TA SẼ THẮNG LŨ KHÔN NẠN. PERRY POPE.
Sáng hôm sau, ông ta tới thăm Tracy. Ngay khi nhìn thấy nụ cười trên khuôn mặt Pope, nàng biết ngay là có tin tốt lành.
“Chúng ta thật may, ông ta kêu lên. “Tôi vừa gặp thẩm phán Lawrence và ông Topper cồng tố viên. Topper gầm lên như một con quỷ. Song chúng ta đã có được một giải pháp”.
“Một giải pháp?”.
“Tôi kể với thẩm phán Lawrence toàn bộ câu chuyện của cô. Và ông ta chấp thuận một lời thú tội”.
Tracy giật bắn mình. “Một lời thú tội ư? Song tôi không ...”.
Ông ta giơ tay lên. “Nghe đã. Bằng việc nhận tội, cô sẽ giúp nhà nước tiết kiệm khoản án phí. Tôi đã thuyết phục được ông thẩm phán rằng cô không lấy cắp bức họa. Ông ấy biết Romano và ông ấy tin tôi”.
“Nhưng ... Nếu tôi nhận tội”, Tracy hỏi từ tốn, “Họ sẽ xử tôi thế nào?”.
“Thẩm phán Lawrence sẽ phạt cô ba tháng ngồi trong tù vởi”.
“Trong tù?”.
“Đợi một chút. Ông ta sẽ xử án treo, và cô có thể được chính quyền tiểu bang tạm tha có thử thách”.
“Nhưng khi đó tôi sẽ ... tôi sẽ có một tiền án à?”.
Perry Pope thở dài. “Nếu họ đưa cô ra tòa về tội cướp có vũ trang và mưu sát, cô có thể bị xử tù tới mười năm”.
Mười năm trong tù.
Perry Pope quan sát nàng một cách kiên nhẫn.
“Quyết định là của cô”, ông ta nói? Tôi chỉ biết cho cô lời khuyên tốt nhất có thể. Tôi dứt ra được vụ này thì tuyệt.
Họ muốn có câu trả lời bây giờ. Cô không bắt buộc phải chấp nhận cách giải quyết đó. Cô có thể kiếm một luật sư khác và ...”.
“Không”. Tracy biết rằng người đàn ông này là ngay thẳng. Trong hoàn cảnh này, với hành động điên rồ của nàng, ông ta đã làm mọi thứ có thể làm được vì nàng. Giá mà có thể nói chuyện với Charles. Song họ cẩn có câu trả lời bây giờ.
May ra nàng có thể qua khỏi với một bản án ba tháng tù treo.
“Tôi sẽ ... tôi sẽ làm theo thế”. Tracy nghiến răng nói.
Ông ta gật đầu. “Tốt lắm, cô bé”.
Cho tới khi bị đưa tới một phòng xử án, Tracy đã không được gọi cú điện thoại nào cả. Ed Topper đứng ở một bên nàng và phía bên kia là Perly Pope, Ngồi trên ghế quan tòa là một người đàn ông vẻ oai vệ ở độ tuổi năm mươi, với khuôn mặt nhẵn nhụi và mớ tóc dày kiểu cách.
Chánh án Henry Lawrence nói với Tracy. “Tôi được thông báo rằng bị cáo từ chỗ kêu oan nay đã nhận tội. Điều đó có đúng không?”.
“Vâng, thưa ngài”.
“Tất cả các bên tán thành chứ?”.
Perry Pope gật đầu. “Vâng thưa ngài”.
“Tiểu bang đồng ý, thưa ngài”, viên công tố nói.
Chánh án Lawrence ngồi im lặng một lúc lâu. Sau đó, dướn người về phía trước và nhìn thẳng vào mắt Tracy.
“Một trong những lý do mà đất nước vĩ đại của chúng ta ở trong tình hình đáng buồn như hiện nay là việc đường phố đầy những kẻ vô lại, chúng nghĩ rằng muốn làm gì cũng được. Người ta đã nhạo báng pháp luật. Một số tòa án trong nước đã nương nhẹ bọn tội phạm, song ở Louisiana này chúng ta không tin có điều đó. Chúng ta tin rằng kẻ đó phải bị trừng phạt thích đáng”.
Tracy bắt đầu cảm thấy nỗi lo ngại. Nàng quay nhìn Perry Pope. Ông ta thì đang nhìn vào quan tòa.
“Bị cáo đã thú nhận mưu toan giết hại một công dân đáng kính trong cộng đồng của chúng ta - một người nổi tiếng vì lòng từ thiện và vì công việc. Bị cáo đã bắn ông ta trong lúc đang ăn cắp một tác phầm nghệ thuật trị giá nủa triệu dô la. Thế nhưng, phiên tòa này sẽ không để ngươi hưởng số tiền đó - trong mười lăm năm tới bởi vì trong thời gian đó ngươi sẽ bị giam trong nhà tù nữ Nam Louisiana”.
Tracy cảm thấy quay cuồng. Một trò đùa quá quắt, độc ác đang diễn ra. Quan tòa là một diễn viên đọc trệch vai diễn của mình. Ông ta đúng ra không được nói một lời nào trong số đó.
Nàng quay sang phân trần với Perry Pope, song cặp mắt ông ta lảng tránh nàng. Ông ta đang múa may với mấy tờ giấy để trong cặp, và lần đầu tiên Tracy nhận rõ bộ mặt thật của ông ta. Chánh án Lawrence đứng dậy thu dọn giấy tờ.
Tracy chết lặng, và không thể hiểu nổi điều đang xảy ra với mình.
Một nhân viên tòa án tới bên nàng. “Đi nào”. Anh ta nói. “Không”. Tracy kêu lên. “Xin đợi!” Nàng nhìn lên quan tòa “Có một sự nhầm lẫn khủng khiếp thưa ngài. Tôi ...”.
Và khi cảm thấy cánh tay bị siết chặt, Tracy nhận ra là không có sự nhầm lẫn nào hết. Nàng đã bị lừa.
Cũng như chúng đã lừa mẹ nàng.
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
doreenxo16 (18-04-2016)
Old 25-08-2006, 04:45 PM   #8
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 13
Andre Gillan đang ở trong bếp bận bịu với món salát kiểu Ý thì chợt nghe những tiếng động chối tai đầy quái gở và chỉ một tích tắc sau tiếng êm dịu của máy điều hòa không khí lạch xạch rồi tắt ngấm.
Andre giậm chân kêu lên. “Cứt thật! Lại vào đúng tối nay cơ chứ”.
Anh ta chạy ra cái buồng xép nơi để bảng điện và đóng mở từng cầu dao.
Chẳng có gì tốt hơn.
Ôi, ông Pope sẽ nổi giận mất. Chắc chắn là thế. Andre biết rõ là ông chủ của mình ngóng đợi cuộc bài poker tối thứ sáu hàng tuần nảy như thế nào. Đó là một thói quen từ nhiều năm nay, với cùng một nhóm người chơi ổn định.
Không có điều hòa không khí, ngôi nhà trở nên không thể chịu nổi. Thực sự là không thể chịu nổi. New Orleans vào tháng Chín này chỉ hợp với đám người nhếch nhác mà thôi. Ngay cả khi mặt trời đã lặn thời tiết vẫn cứ nóng và ấm.
Andre quay vào bếp và nhìn đồng hồ. Bốn giờ chiều rồi. Khách khứa sẽ đến vào lúc tám giờ đúng. Andre đã nghĩ tới việc gọi điện cho ông chủ để báo về sự rắc rối này, nhưng rồi lạl nhớ ông luật sư đã nói là sẽ bận rộn cả ngày ở tòa án.
Ông chủ đáng kính thật quá bận - Andre nghĩ, ông ấy cần được nghỉ ngơi. Và giờ thì thế này ...
Andre rút ngăn kéo, lấy ra chiếc điện thoại màu đen và quay số.
Sau ba hồi chuông, một giọng đều đều cất lên. “Bạn đang làm việc với hãng thch vụ điều hòa không khí Eskimo.
Lúc này chúng tôi không có sẵn các kỹ thuật viên. Nếu bạn để lại tên, địa chỉ và một lời chỉ dẫn ngắn, chúng tôi sẽ tìm tới bạn ngay khi có thể. Xin hãy đợi tín hiệu”.
Đến chịu thật? Andre rất bực bội khi phải nghe lời một cái máy.
Một tiếng “Bip” khó chịu réo vào tai. Ạndre nói. “Đây là nhà riêng của ngài Perry Pope, 42 Phố Charles. Hệ thống điều hòa không khí của chúng tôi đã ngừng hoạt động. Đề nghị phái người tới đây càng sớm càng tốt”.
Anh ta đặt sầm ống nghe xuống. Tất nhiên là không sẵn thợ rồi. Có thể là điều hòa không khí của cái thành phố chết tiệt này đều đang hỏng cả. Có ai đến ngay được thì tốt quá. Andre lẩm bẩm. Ông Pope hay cáu kỉnh lắm.
Đã ba năm nay, Andre làm đầu bếp cho ông luật sư, và đã biết chủ của mình đầy thế lực ra sao. Thật ghê gớm.
Chỉ cần búng ngón tay là khối kẻ phải nhảy dựng Andre Gillan thấy ngôi nhà dường như bắt đầu bực bội. Nếu không làm được một cái gì đó để cứu vãn tình thế này thì mọi chuyện sẽ thật tệ hại.
Ba mươi phút sau đó, khi tiếng chuông cửa reo vang thì quần áo Andre đã ướt đẫm mồ hôi, và căn bếp thì như một cái lò. Gillan vội chạy ra mở cánh cửa hậu.
Hai anh thợ trong bộ đồng phục đứng ngay trước cửa, vai đeo những hòm đồ nghề. Một da đen cao lớn và một da trắng, thấp hơn, với bộ mặt buồn ngủ, đầy mệt mỏi. Ở lối đi ra phía sau có chiếc xe chuyên dùng của họ.
“Máy điều hòa trục trặc phải không?”. Người da đen hỏi.
Đúng. ơn Chúa các anh đã đến. Hãy cho nó làm việc trở lại, và nhanh lên.
Khách khứa tới bây giờ rồi. Người đàn ông da đen bước lại bên lò nướng hít hít và nói. “Thơm đấy”.
“Nào!” Gillian giục. “Làm gì đi chứ”.
“Hãy cho bọn này ngó cái nơi đặt máy đã”. Người da trắng nói. “Nó ở đâu?”.
Andre vội đưa họ tới phòng kho, nơi đặt hệ thống điều hòa không khí.
“Cái máy này tốt lắm, Ralph”. Người da đen nói với bạn đồng nghiệp.
“Ừ Ai. Họ đâu có làm những cái như thế này nữa”.
“Thế thì chuyện quỷ quái gì mà nó không chạy được?”.
Gillian kêu lên.
Họ quay lại nhìn anh ta.
“Thì đã có chúng tôi”, Ralph nói vẻ chắc nịch. Anh ta quỳ xuống, mở một cái nắp nhỏ ở phía dưới chiếc máy, lấy ra cái đèn bấm, rồi nằm rạp xuống để ngó vào bên trong.
Sau một lát, anh ta lồm cồm đứng lên. “Chỗ hỏng không phải ở đây”.
“Vậy thì ở đâu?” Andre hỏi.
“Có thể là có chỗ chập mạch ở mạng ngoài và làm chập cả hệ thống. Có bao nhiêu máy điều hòa lẻ trong nhà?”.
“Mỗi phòng có một chiếc. Để xem nào. Vậy ít nhất là chín”.
“Đó có thể là vấn đề đấy. Quá tải. Hãy cho chúng tôi kiểm tra xem”.
Cả ba kéo nhau trở ra. Khi họ đi ngang phòng khách.
Ai nói. “Ông Pope có căn phòng quả là đẹp”.
Căn phòng khách được bày biện tinh tế, đầy những đồ cổ, đáng giá cả một gia tài lớn. Những tấm thảm Ba Tư màu sắc rực rỡ được trải kín sàn. Bên trái phòng khách là phòng ăn lớn, và phía bên phải là một phòng kín đáo, trong kê một cái bàn để chơi bài, phủ nỉ xanh ở góc trong là cái bàn tròn sẵn sàng cho bữa ăn tối. Hai anh thợ bước vào căn phòng này, rọi đèn bấm vào chiếc máy điều hòa không khí gắn cao trên tường.
Hừ?” Anh ta lẩm bẩm và nhìn lên khoảng trần phía trên cái bàn chơi bài.
“Bên trên phòng này là cái gì?”.
“Căn buồng áp mái đấy mà”.
“Cho chúng tôi xem nào”.
Hai anh thợ theo Andre lên căn buồng áp mái, một cái buồng dài, trần thấp, bụi bặm và đầy mạng nhện.
Al bước tới một cái bảng điện gắn trên tường. Anh ta kiểm tra cái búi dây điện. “Ha?”.
“Anh thấy rồi à?” Anđre sốt sắng hỏi.
“Cái bình ngưng hỏng rồi. Do độ ẩm cao. Chúng tôi gặp hàng trăm trường hợp như thế này trong tuần. Nó bị chập Ta sẽ phải thay bình mới”.
“Ôi lạy Chúa! Có lâu không?”.
“Không. Chúng tôi có bình mới ở ngoài xe”.
“Xin nhanh lên cho”. Anđre cẩn thận. “Ông Pope sắp về đến nơi rồi”.
“Anh cứ để đấy cho bọn này”, Al đáp.
Andre thú thật. “Tôi phải làm cho xong món trộn xa-lát.
Các anh có thể tự tìm lối trở lại căn buồng mãi không? Al giơ một tay lên.
“Có gì đâu. Anh cứ làm việc của anh đi, bọn tôi sẽ làm việc của mình”.
“Ồ, cám ơn. Xin cám ơn anh”.
Andre trông theo hai anh thợ đi ra ngoài xe và trở lại với hai túi đựng dụng cụ kềnh càng. “Nếu cần gì”, anh ta bảo hai người “thì cứ gọi tôi nhé”.
Hai anh thợ đi lên trên gác, còn Andre thì trở vào bếp.
Khi Ralph và Al tới căn buồng áp mái, họ mở túi đồ nghề và lấy ra một ghế gấp nhỏ, một cái khoan với một mũi khoan thép, một khay bánh kẹp, hai lon bia và một cặp ống nhòm cỡ 12 - 40 dùng quan sát các mục tiêu ở xa trong ánh sáng yếu, và hai con chuột bạch đã được tiêm ba phần tư ống axêtin promadun.
Hai người bắt tay vào việc.
“Mụ Ernestine yêu quý sẽ phải tự hào về tôi”. Al cười giòn tan.
Lúc đầu, Al đã khăng khăng phản đối.
“Chắc chắn là em loạn óc rồi. Anh sẽ không dính dáng gì với Perry Pope đâu. Thằng cha đàng điếm sẽ quật anh đến nát mông ra mất”.
Nhưng rồi anh không bao giờ còn phải e ngại về hắn nữa. Bời hắn sẽ chẳng còn có thể làm phiền ai”.
Họ đang nằm trần truồng trên cái giường đệm nước trong căn phòng của Ernestine.
“Thối được, vậy em được gì trong vụ này, em yêu?” Al căn vặn.
“Hắn là đồ đểu cáng”.
“Này, cô bé, thế giới này đầy rẫy những đồ đểu cáng, em đâu có dành cả đời vào việc bóp chết chúng nó được”.
“Cứng phải. Song em làm điều này vì một người bạn”.
“Tracy phải không?”.
“Đúng vậy”.
Al rất mến Tracy. Họ đã cùng ăn chiều với nhau ngày nàng mới ra tù.
“Cô ấy là một tiểu thư có học”. Al thừa nhận. “Nhưng tại sao ta lại phải chìa cổ ra vì cô ấy?
“Bởi vì nếu không, cô ấy sẽ phải kiếm một người khác - người mà chẳng thế nào tốt bằng nửa anh thôi, và nếu bị tóm, chúng sẽ ném cô ấy trở lại nhà tù mất”.
Al ngồi dậy trên giường và nhìn Ernestine đầy tò mò.
“Điều này có nhiều ý nghĩa với em hả, cô bé?”.
“Vâng, anh yêu”.
Không bao giờ cô có thể làm cho anh ta hiểu điều ấy, song sự thật thì đơn giản là Emestine không chịu nổi ý nghĩ việc Tracy bị ném trở lại nhà tù với Bertha Lớn.
Không hẳn là Ernestine chỉ quan tâm tới Tracy, mà còn chính là bản thân mình nữa. Cô đã tự đặt mình làm người bảo hộ cho Tracy và nếu Bertha Lớn có thể động hay vào Tracy thì điều đó có nghĩa là Ernestine thất bại.
Vậy mà giờ đây cô chỉ nói. “Vâng, nó có nhiều ý nghĩa đối với em lắm, anh yêu quý. Anh sẽ làm chứ?”.
Al càu nhàu. “Quỷ quái, nhưng chắc chắn một mình anh không thể làm nổi”.
Và Ernestine biết là chị đã đặt ý định. Chị hôn dọc tấm thân dài và khơẻ mạnh của anh, thì thào. “Thế chẳng phải là Ralph yêu quý của chúng ta đã được thả ra cách đây ít hôm rồi à? ...”.
Tới 18 giờ 30, hai anh thợ mới trở xuống bếp, khắp người đẫm mồ hôi và bụi.
“Lắp xong chưa?” Andre sốt ruột hỏi.
“Thật khốn nạn” Al đáp lại “Anh biết đấy, cái của anh là bình kiểu AOIDC”.
“Đừng dài dòng”, Andre sốt ruột cắt ngang. “Anh đã lắp vào chưa?”.
“Rồi. Xong cả rồi. trong năm phút nữa chúng tôi sẽ làm cho nó hoạt động trở lại, tốt như môi tinh”.
“Tuyệt diệu! Nếu các anh để lại hóa đơn ...”.
Ralph lắc đầu “Đừng bận tâm chuyện đó, Công ty sẽ thanh toán sau”.
“Chúc các anh may mắn. Tạm biệt”.
Andre trông theo hai người thợ đi ra qua cửa sau, mang theo các túi đồ nghề lỉnh kỉnh. Khi đã khuất tầm mắt anh ta, họ đi vòng ra sân trước và mở cái tủ đựng bình ngưng phía ngoài của hệ thống điều hòa không khí cả ngôi nhà.
Ralph soi đèn bấm cho AI nói ô lại những nơi đây mà chính anh ta đã gỡ ra một vài giờ trước đó. Ngay lập tức, hệ thống hoạt động trở lại.
AI ghi lại số điện thoại trên tấm phiếu dịch vụ gắn trên bình thường. Một lát sau khi gọi đến số máy ấy và nghe giọng nói ghi âm của Hãng dịch vụ điều hòa không khí Eskimo, AI nói. “Đây là nhà riêng của ông Perry Pope, 42 phố Charles. Hệ thống điều hòa không khí của chúng tôi hiện đã hoạt động tốt. Xin đừng phái người tới nữa. Chúc một ngày đẹp đẽ”.
Cuộc chơi bài Poker tối thứ sáu hàng tuần ở nhà Perry Pope luôn được những người tham gia hào hứng trông đợi. Đó là một nhóm cố định và được lựa chọn cẩn thận, gồm có:
Anthony Orsatti, Joe Romano, thẩm phán Henry Lawrence, một ủy viên hội đồng thành phố, một thượng nghị sĩ, và dĩ nhiên là chủ nhà nữa. Tiền đặt bài cao, đồ ăn hảo hạng, và người chơi thì đầy quyền lực hắc ám.
Ở trong phòng ngủ, Perry Pope đang mặc chiếc quần trắng tinh và chiếc áo sơ mi kiểu thể thao. Hắn lẩm nhẩm khoái chí, mơ tưởng tới cuộc bài buổi tối.
Dạo này hắn đang gặp vận đỏ. Thực tế thì cả cuộc đời mình đúng là một chuổi dài may mắn, hắn nghĩ.
Bất kỳ ai ở New Orieans muốn được một sự thuận lợi pháp lý nào đó, thì Perry Pope chính là vị luật sư cần tìm tới Quyền lực của hắn có được từ các mối liên hệ với gia đình Orsatti. Người ta gọi hắn là người dàn xếp, và thực tế hắn có thể thu xếp mọi chuyện từ một cái vé tâu xe tới một lời tố cáo dính tới ma túy, hay một lời buộc tội giết người. Cuộc sống, với hắn, thật dễ chịu.
Khi Anthony Orsatti đến, lão mang theo một người khách. “Joe Romano sẽ không chơi nữa”, Orsatti loan báo.
“Các anh chắc đều chưa biết thanh tra Newhouse”.
Mấy người đàn ông bắt tay làm quen với nhau.
“Thưa các vị, đồ uống ở bàn bên”, Perry Pope nồi, “chúng ta sẽ ăn tối Bau.
Tại sao không bắt đầu đi nhỉ?”.
Họ ngồi xuống những cái ghế quen thuộc của mình quanh chiếc bàn phủ nỉ xanh trong căn phòng nhỏ riêng biệt kề phòng khách. Orsatti chỉ vào cái ghế trống vốn là chỗ của Joe Romano và nói với thanh tra Newhouse, “Từ giờ trở đi đó sẽ là chỗ của anh, Mel”.
Trong khi những người kia mở mấy bộ bài mới, Pope bắt đầu chia các phần.
Hắn giải thích với thanh tra Newhouse. “Những phần đen là năm đô la, phần đỏ là mười đô la, xanh năm mươi đô la, trắng một trăm. Trước tiên mỗi người mua lấy một số phần trị giá năm trăm đô la, chúng ta chơi theo lối đặt cửa, ha người xướng bài, nhà cái chọn.
“Hợp với tôi đấy”. Gã thanh tra đáp.
Anthony, Orsatti đang ở trong một tâm trạng khó chịu. “Nào, bắt đầu đi”, giọng lão như tiếng thì thầm nghẹn lời. Một dấu hiệu chẳng hay ho gì. Perry Pope sẵn lòng bỏ ra một đống tiền để biết được chuyện gì xảy ra với Romano, song gã biết rõ là không nên nêu ra. Khi nào có thể thì lão sẽ bản luận với gã.
Những ý nghĩ của Orsatti thật đen tối:
Mình đã như bố nó, thằng Joe Romano. Mình tin cậy nó, cho nó làm phó. Và thằng chó đẻ ấy đã đâm vào lưng mình. Nếu con đàn bà người Pháp kia không cuống cuồng gọi tới thì nó chuồn mất rồi. Hừ, nó sẽ chẳng bao giờ mang được cái gì mà chuồn nữa. Khi mà nó đang ở đó. Nếu nó thông minh đến thế thì cứ ở đó mà chơi với đám cá.
“Tony, ông thế nào?”.
Anthony Orsatti chú ý trở lại vào ván bài. Trên cái bàn này, những món tiền lớn đã mất và được. Anthony Orsatti luôn bực bội khi thua, và không phải vì chuyện tiền bạc. Lão không thể chịu nổi tư thế thua trong bất kỳ chuyện gì. Lão nghĩ về mình như một kẻ sinh ra là để chiến thắng. Trong cuộc sống, chỉ những kẻ chiến thắng mới có được vị trí như lão. Đã sáu tuần lễ qua, Perry Pope gặp vận đỏ một cách khủng khiếp và tối nay Anthony Orsatti quyết không để thế nữa.
Thế nhưng tối nay, dù chơi thế nào chăng nữa Anthony Orsatti vẫn thấy là lão đang thua. Lãơ bắt đầu tăng tiền đặt, chơi một cách táo bạo hòng gỡ lại. Tới nửa đêm, khi họ ngừng lại để ăn bữa tối mà Andre dọn lên, thì Orsatti đã thua tới mấy nghìn đô la và Perry Pope là kẻ thắng lớn.
Các món ăn thật quyến rũ. Thường thường thì Orsatti rất khoái bữa ăn này, song đêm nay lão chị ngong ngóng trở lại canh bạc. Ông không dùng à, Tony”.
Perly Pope hỏi.
“Ta không đói”. Orsatti với chiếc bình cà phê bằng bạc ở bên cạnh, rót vào cái ly sứ Herend và ngơi xuống bàn poker. Lão nhìn mấy kẻ đang ăn và chỉ muốn họ ăn mau lên. Lão sốt ruột gỡ lại tiền. Khi bắt đầu uống cà phê, thì một vật nhỏ xíu rơi vào trong ly của lão. Nhăn mặt, lão dùng thìa vớt cái vật đó lên xem, thì ra lạ một mẩu vữa trát tường. Lão ngước nhìn lên trần, và một cái gì đó rơi đúng trán lão. Lão đột nhiên nghe thấy cả những tiếng động phía trên đầu.
“Quỷ quái gì trên gác thế” Orsattl hỏi.
Perry Pope đang kể giữa chừng giai thoại gì đó cho thanh tra Newhouse.
“Xin lỗi, ông nói gì cơ ạ, Tony?”.
Lúc này những tiếng động càng trở nên rõ hơn. Những mẩu vữa liên tiếp rơi xuống mặt bàn.
“Tôi cảm tưởng như là có chuột ở trên đó”. Viên thượng nghị sĩ nói.
“Trong nhà này thì không thể có chuột”, Perry Pope bực mình.
“Hừ, chắc chắn là anh phải có một thứ quái quỉ gì trên đó”, Orsatti cáu kỉnh.
Một mẩu vữa lớn lại rơi xuống mặt bàn.
“Tôi sẽ sai Andre coi việc này”. Pope nói. “Nếu ta đã ăn xong, sao không trở lại bàn chơi đi nhỉ”.
Anthony Orsatti chăm chú nhìn một lỗ nhỏ trên trần nhà ngay phía trên đầu lão. “Khoan đã. Ta hãy lên đó ngó xem chuyện gì”.
“Để làm gì, Tony? Andre có thể ...”.
Orsatti đã nhỏm dậy và đi về hướng cầu thang.
Những người kia nhìn nhau rồi vội vã đi theo lão.
“Có thể là một con sóc đã lọt vào căn buồng áp má!”, Perry Pope đoán. “Vào thời gian này trong năm, đám sóc có ở mọi nơi. Có thể là chúng muốn giữ gìn cái của nợ kia cho mùa đông tới”. Hắn cười lớn với câu đùa của mình.
Khi bọn họ tới căn buồng áp mái, Orsatti đẩy cánh cửa ra và Perry Pope bật đèn lên. Họ thoáng thấy ngay hai con chuột bạch đang điên cuồng chạy quanh căn buồng”.
“Chúa ơi,” Perry Pope kêu lên. “Có chuột thật”.
Anthony Orsatti không để ý Pope nói gì, lão đang chăm chú quan sát. Ỡ ngay giữa buồng là một cái ghế kiểu dùng khi đi cắm trại, trên có một gói bánh kẹp và hai lon bia đã mở. Cạnh cái ghế, ngay trên sàn, là một ống nhòm. Orsatti bước lại, lật từng thứ lên xem xét. Rồi lão quỳ xuống trên mặt sàn bụi bặm. Và gạt cái ống nhỏ chặn trên cái lỗ được khoan xuyên xuống qua trần nhà, Orsatti ghé mắt nhìn qua lỗ đó. Ngay bên dưới lão là cái bàn chơi - nhìn thấy khá rõ ràng.
Perry Pope đang đứng như trời trồng giữa buồng. “Ma quỷ nào mang những thứ linh tinh để đây không biết? Tôi sẽ cho thằng Andre một trận về vụ này”.
Orsatti chậm rãi đứng lên và phủi bụi trên quần.
Perly Pope đưa mắt nhìn xuống sàn. “Trông kìa!” Hắn kêu lên. “Chúng để lại cái lỗ ma quỷ kia trên trần. Đám công nhân ngày nay chẳng đáng một cục cứt”.
Hắn cúi xuống và nhìn qua cái lỗ, mặt đột nhiên tái đi Hắn đứng dậy hoảng hốt nhìn quanh, và thấy cả mấy người kia đang đứng nhìn hắn chằm chằm.
“Trời!” Perly Pope nói. “Các vị không nghĩ là tôi ...?
Nào các vị, tôi đây. Ôi, không biết tý gì về chuyện này cả.
Tôi không lừa các vị đâu. Lạy Chúa chúng ta là chỗ bạn bè”. Tay hắn vụt đưa lên miệng, và hắn bắt đầu giận dữ gặm gặm vào đó.
Orsatti vỗ vỗ lên cánh tay hắn. “Đừng bận tâm về việc đó”. Giọng lão gần như không nghe được nữa. Perry Pope vẫn tuyệt vọng cắn chặt ngón tay cái của mình.
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 5 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
Gypeamassy (22-08-2015), hahp81 (30-04-2015), IsraelGues (28-09-2014), nicolepe16 (19-10-2015), psydayDrype (01-11-2015)
Old 25-08-2006, 04:51 PM   #9
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 14
“Thế là xong hai kẻ, Tracy”. Ernestine Littlechap cười giòn tan. “Ngoài phố người ta xì xào rằng ông bạn luật sư Perry Pope của cô không còn hành nghề luật nữa rồi. Ông ta đã gặp một tai nạn vô cùng đáng tiếc”.
Họ đang nhấm nháp bánh với cà phê sữa trong một tiệm cà phê nhỏ trên phố Royal.
Ernestine cười khúc khích nói. “Cô thật có cái đầu, cô bé ạ. Thế cô không làm ăn cùng với tôi à?”.
“Cảm ơn, chị Erllestine. Tôi còn có những kế hoạch khác”.
Ernestine sốt sắng hỏi. “Tiếp theo là kẻ nào vậy?”.
“Lawrence. Thẩm phán Henry Lawrence”.
Henry Lawrence bắt đầu sự nghiệp của ông ta từ chỗ là một viên luật sư tỉnh lẻ ở Leesvilla, Louisiana. Ông ta có rất ít năng khiếu về luật. Thế nhưng lại có hai thứ quan trọng:
Diện mạo gây ấn tượng, và rất uyển chuyển về mặt đạo lý.
Tnết lý của ông ta là coi luật pháp như một cái cần câu mảnh mai để cớ thể uốn cong sao cho phù hợp với yêu cầu của khách hàng. Tâm niệm điều đó, trong đầu, thì việc ông ta hành nghề phát đạt với một nhóm khách hàng đặc biệt chỉ sau khi chuyển đến New Orleans ít lâu, chẳng có gì đáng ngạc nhiên. Ông ta từ chỗ nhận những vụ vi phạm nhỏ nhặt, tai nạn giao thông đến chỗ nhận giải quyết những vụ vi phạm lớn và những trọng án, trọng tội và cho tới lúc ông ta đã là một chuyên gia trong việc mua chuộc bồi thẩm đoàn, làm mất uy tín các nhân chứng, và hối lộ ai là người có thể giúp mình trong kiện tụng. Nói tóm lại ông ta là một kiểu người ưa thích của Anthony Órsatti, và hai kẻ này gặp nhau là điều không tránh khỏi. Đó là một cuộc hôn nhân trên thiên đường của Mafia.
Lawrence trở thành người phát ngôn của gia đình Orsatti, và khi thời cơ đến, Orsatti đã đưa ông ta vào cái ghế thẩm phán tòa án.
“Tôi không biết là cô sẽ làm cách nào để trừ khử lão thẩm phán này”.
Ernestine nói. “Lão ta giàu có, nhiều thế lực và không thể nào đụng tới được”.
Lão ta giàu có và nhiều thế lực”, Tracy đáp. “Thế nhưng không phải là không thể nào đụng tới được”.
Tracy tính toán kế hoạch của mình, song khí gọi điện tới phòng làm việc của thẩm phán Lawrence thì thấy ngay là phải thay đổi nó.
“Xin cho tôi nói chuyện với thẩm phán Lawrence”.
Một cô thư ký trả lời. “Rất tiếc, thẩm phán Lawrence không có ở đây”.
“Liệu khi nào ông ấy trở về?”.
“Thực sự là tôi không thể nói trước”.
“Có việc rất quan trọng. Sớm mai ông ấy có ở đấy không “Không. Thẩm phán Lawrence hiện không có trong thành phố”.
“Ôi, Liệu tôi có thể tìm được ông ấy ở đâu?”.
“Tôi sợ rằng điều đó là không thể được. Ngài đang ở nước ngoài”.
Tracy phải cố giấu vẻ thất vọng trong giọng nói. “À! ra vậy. Cho phép tôi hỏi ở đâu được không?”.
“Ngài đang ở châu Âu, tham dự một hội nghị luật gia quốc tế”.
“Thật đáng tiếc”. Tracy nói.
“Xin cho biết ai gọi vậy?”.
Đầu óc Tracy tính toán rất nhanh. “Tôi là Elizabeth Rowane Dastin, chủ tịch phân hội miền Nam của Hội luật gia Mỹ. Chúng tôi sẽ tổ chức buổi lễ trao giải thưởng hàng năm tại New Orleans vào ngày hai mươi tháng này, và đã chọn thẩm phán Henry Lawrence là nhân vật nổi tiếng nhất trong năm của chúng tôi”.
“Thật là tuyệt”. Cô thư ký nói. “Song tôi sợ rằng lúc đó ngài vẫn chưa trở về được”.
“Thật đáng buồn. Chúng tôi đều trông chờ được nghe một bài diễn văn của ông ấy. Ủy ban lựa chọn của chúng tôi đã nhất trí chọn thẩm phán Henry Lawrence đấy”.
“Ngài sẽ thật thất vọng nếu lỡ dịp này”.
“Vâng. Tôi chắc cô cũng biết đây là một vinh dự lớn.
Một số thẩm phán lừng danh nhất của chúng ta đã được trao giải thưởng trong quá khứ. Đợi một chút. Tôi có ý kiến thế này. Cô éo nghĩ rằng ông thẩm phán sẽ có thể ghì băng một bài đáp từ cho chúng tôi không - một vài lời cảm ơn chẳng hạn”.
“Ồ tội tôi thật không thể nói. Ngài có một chương trình rất bận”.
“Sẽ có rất nhiều tin tức trên báo chí và truyền hình quốc gia đấy”.
Có một chút im lặng. Thư ký của thẩm phán Lawrence biết rõ là ông ta thích được xuất hiện trên các phương tiện thông tin đại chúng. Sự thực thì theo chỗ cô biết, chuyến đi hiện nay của ông ta dường như chủ yếu nhằm vào mục đích đó.
Cô ta nói, “Có thể ngài sẽ dành ra được thời gian để ghi lại ít lời cho chị. Tôi có thể hỏi ngài về việc này”.
“Ổi, thế thì thật tuyệt vời”. Tracy khuyến khích. “Tất cả buổi tối của chúng tôi là ở việc đó”.
“Chị có muốn ngài phát biểu ý kiến về một điều gì cụ thể không?”.
“Ồ, dứt khoát là thế rồi. Chúng tôi mong ông ấy nói về” Giọng nàng tỏ ra lưỡng lự. “Tôi sợ rằng sẽ hơi phức tạp một chút. Nếu tôi có thể trực tiếp giải thích với ông ấy thì tốt quá”.
Một chút im lặng nữa. Cô thư ký gặp một tình thế tiến thoái lưỡng nan. Cô đã được lệnh không được để lộ hành trình của sếp. Mặt khác, rất có thể ông thẩm phán sẽ mắng cô nếu vì cô mà ông ta lỡ mất dịp nhận một giải thưởng quan trọng như thế này.
Cô ta nói. “Thực ra tôi không được phép đưa ra bất kỳ một thông tin nào song tôi tin rằng ngài sẽ bằng lòng cho phép có một ngoại lệ vì một vấn đề mang tính uy tín như thế này. Chị có thể liên lạc được với ngài ở Matxcơva, tại khách sạn Rossia. Ngài sẽ ở đó trong suốt năm ngày tới và sau đó thì ...”.
“Tuyệt diệu. Tôi sẽ liên lạc với ông ấy ngay. Cảm ơn cô nhiều.
“Cảm ơn chị, chị Dastin”.
Các bức điện đã được gửi tới cho thẩm phán Henry Lawrence ở khách sạn Rossia, Matxcơva. Bức điện thứ nhất viết:
CUỘC HỌP HỘI ĐỒNG THẨM VẤN LẦN TỚI GIỜ ĐÂY ĐÃ ĐƯỢC DÀN XẾP. XÁC ĐỊNH NGÀY THUẬN TIỆN THỂ THEO YÊU CẦU XẾP CHỖ. BORIS.
Bức điện thứ hai tới ngày hôm sau, viết:
THÔNG BÁO VỀ TRỤC TRẶC CỦA SƠ ĐỒ HÀNH TRÌNH CHUYẾN BAY CỦA EM GÁI BẠN VỀ MUỘN, SONG HẠ CÁNH AN TOÀN. MẤT HỘ CHIẾU VÀ TIỀN. CÔ ẤY SẼ ĐƯỢC ĐƯA VÀO KHÁCH SẠN THỤY SĨ HẠNG NHẤT, SẼ THU XẾP TÀI KHOẢN SAU. BORIS.
Bức điện sau cùng viết:
EM GÁI BẠN SẼ CỐ GẮNG LIÊN HỆ VỚI SỨ QUÁN MỸ ĐỂ LẤY HỘ CHIẾU TẠM THỜI. CHƯA CÓ THÔNG TIN GÌ VỀ THỊ THỰC MỚI.
NGƯỜI THỤY SĨ LÀM CHO NGƯỜI NGA CÓ VẺ THÁNH THẦN LẮM.
SẼ ĐƯA EM GÁI BẠN BẰNG TÀU BIỂN TRỞ VỀ VỚI BẠN NHANH NHẤT. BORIS.
Cơ quan an ninh của Liên Xô đã đợi xem còn bức điện nào nữa không, và khi thấy đã hết họ bèn bắt giữ thẩm phán Lawrence.
Cuộc thẩm vấn kéo dài mười ngày đêm.
“Ông gửi thông tin cho ai?”.
“Thông tin nào? Tôi không hiểu các ông nói gì?”.
“Chúng ta đang nói về các đồ án. Ai giao cho ông các đồ án đó?”.
“Đồ án nào?”.
“Đồ án về các tàu ngầm nguyên tử Xô-viết”.
“Các ông điên rồi. Tôi biết gì về các tàu ngầm Xô viết “Đó là cái mà chúng tôi sẽ tìm ra. Ông có những cuộc họp mặt bí mật với ai?”.
“Cuộc họp bí mật nào? Tôi không có gì bí mật cả”.
“Được Vậy nói xem ai là Boris?”.
“Boris, ai cơ?”.
“Người chuyển tiền vào tài khoản ở Thụy Sĩ của ông ấy mà”.
“Tài khoản Thụy Sĩ nào?”.
Họ bực bội. Họ nói vào mặt ông ta rằng. “Ông là một thằng ngốc bướng bỉnh. Chúng tôi sẽ công bố rõ về ông, và tất cả những người Mỹ làm gián điệp khác mưu toan phá hoại Tổ quốc chúng tôi”.
Cho tới khi đại sứ Mỹ được phép tới thăm thì thẩm phán Henry Lawrence đã sút tới tám cân, không còn nhớ nổi lần cuối cùng được ngủ là khi nào, và ông ta chỉ còn là một cơ thể tàn tạ, run rẩy.
“Tại sao họ lại xử sự thế này với tôi hả?” Ông ta rên rỉ.
“Tôi là một công dân Mỹ. Tôi là một thẩm phán. Vì Chúa, hãy đưa tôi ra khỏi đây”.
“Tôi đang làm mọi thứ có thể”. Viên đại sứ bảo đảm.
Ông bị sốc với dáng vẻ của Lawrence. Chính ông đã đón thẩm phán Lawrence và các thành viên cùng đi khi họ tới đây, hai tuần lễ trước. Người đàn ông mà đại sứ gặp khi đó không hề giống cái con người quy luy, rúm ró đang phủ phục trước mặt ông này.
Lần này người Nga họ mưu tính cái quỷ quái gì thế không biết” Ông đại sứ băn khoăn. Ông thẩm phán cũng như mình, không phải là một điệp viên. Rời ông gượng gạo nghĩ, cho rằng mình đã có thể có một chứng cứ rõ ràng hơn.
Ổng đại sứ đòi gặp người đứng đầu Bộ Chính trị Liên Xô và khi yêu cầu này bị khước từ, ông đành nhận lời gặp một trong số các bộ trưởng.
“Tôi buộc phải đưa ra lời phản kháng chính thức”, ông đại sứ giận dữ tuyên bố. “Sự đối xử của đất nước ông với thẩm phán Henry Lawrence là không thể chấp nhận được.
“Gọi một người như ông ta là gián điệp thì thật là lố bịch”.
“Nếu như ông đã nói xong rồi”, vị bộ trưởng lạnh lùng đáp “Xin mời ông xem những thứ này”.
Ông ta đưa những bản sao các bức điện cho ông đại sứ.
Ông đại sứ đọc rồi nhìn lên, lúng túng. “Có gì sai trái đâu? Chúng hoàn toàn vô tội”.
“Thực vậy sao? Có thể ông nên đọc lại một lần nữa. Đã giải mã”. Ông ta trao cho ông đại sứ một bản sao khác của những bức điện. Các từ khóa đều được gạch dưới.
CUỘC HỌP CỦA HỘI ĐỒNG THẨM PHÁN LẦN TỚI ĐÃ ĐƯỢC DÀN XẾP. XÁC ĐỊNH NGÀY THUẬN TIỆN THỂ THEO YÊU CẦU XÊP CHỖ BORIS.
THÔNG BÁO VỀ TRỤC TRẶC CỦA SƠ ĐỒ HÀNH TRÌNH, CHUYẾN BAY CỦA EM GÁI BẠN VỀ MUỘN, SONG HẠ CÁNH AN TOÀN MẤT HỘ CHIẾU VÀ TIỀN. CÔ ẤY SẼ ĐƯỢC ĐƯA VÀO KHÁCH SẠN THỤY SĨ HẠNG NHẤT. SẼ THU XẾP TÀI KHOẢN SAU. BORIS.
EM GÁI BẠN SẼ CỐ GẮNG LIÊN HỆ VỚI SỨ QUÁN MỸ ĐỂ LẤY HỘ CHIẾU TẠM THỜI. CHƯA CÓ THÔNG TIN GÌ VỀ THI THỰC MỚI.
NGƯỜI THỤY SĨ LÀM CHO NGƯỜI NGA CÓ VẺ THẦN THÁNH LẮM.
SẼ ĐƯA EM GÁI BẠN BẰNG TÀU BIỂN TRỞ VỀ VỚI BẠN NHANH NHẤT. BORIS.
Mình thật xấu hổ, ông đại sứ nghĩ thầm.
Báo chí và công chúng bị ngăn không được tham dự phiên tòa. Bị cáo vẫn tiếp tục bướng bỉnh, tiếp tục phủ nhận việc ông ta đang hoạt động gián điệp ở Liên Xô. Pbía tòa đã hứa khoan hồng nếu ông ta tiết lộ các cấp chỉ huy của mình và thẩm phán Lawrence sẵn sàng đổi tất cả để có thể làm được điều đó, song đáng tiếc, ông ta không thể.
Ngày hôm sau báo Pravđa đăng một mẩu tin ngắn về phiên tòa, thông báo rằng thẩm phán Henry Lawrence, một điệp viên Mỹ tai tiếng, đã bị buộc tội làm gián điệp và bị kết án 14 năm lao động khổ sai ở Sibêri.
Cộng đồng tình báo Mỹ rối trí lên vì vụ Lawrence.
Những lời xì xầm lan đi trong nội bộ CIA, FBI, cơ quan mật vụ và Bộ Tài chính.
CIA nói. “Ông ta không phải là người của chúng tôi. Có thể là người của Bộ Tài chính”.
Bộ Tài chính công bố không hề biết gì về vụ này.
“Không, thưa các ngài, Lawrence không phải là người của chúng tôi. Có thể bọn FBI khốn kiếp lại xía vào lãnh vực này một lần nữa”.
“Chưa bao giờ nghe nói về ông ta”. FBI tuyên bố. “Có thể là Bộ Ngoại giao, hoặc DIA sử dụng ông ta”.
Cục tình báo Quốc phòng DIA cũng mò mẫm như mấy cơ quan kia, thận trọng ra thông cáo “Miễn bình luận”.
Mỗi cơ quan trong cộng đồng tình báo Mỹ đều tin rằng một trong số các cơ quan kia đã phái thẩm phán Henry Lawrencera nước ngoài.
“Quả thật tôi khâm phục lòng dũng cảm của ông ta”, ông giám đốc CIA nói.
“Ông ta thật cứng cựa, không hề thú nhận và không hề chỉ ra một cái tên nào khác. Nói thực là tôi mong muốn có nhiều người như thế nữa”.
Mọi chuyện đang diễn biến rất xấu đối với Orsatti, và lão trùm đã không thể hiểu nổi vì sao. Lần đầu tiên trong đời vận may rời bỏ lão. Đầu tiên là sự đào tẩu của Joe Romano, rồi đến Perry Pope và giờ đây lại mất nốt tay thẩm phán. Họ chính là nhóm nòng cất trong bố máy của Orsatti, những người mà lão phải dựa vào.
Joe Romano là một trụ cột trong tổ chức của lão, và lão đã không tìm được ai để thay thế hắn. Việc điều hành công việc trở nên luộm thuộm và xuất hiện những lời phàn nàn từ những kẻ trước đây chưa bao giờ dám phàn nàn. Đã có dư luận rằng Tony Orsatti đang trở nên già cả, lú lẫn, rằng lão không còn có thể duy trì trật tự trong đám tay chân, rằng tổ chức của lão đang tan rã.
Cọng rơm cuối cùng là một cú điện thoại gọi đến từ New Jersey.
“Chúng tôi nghe nói ông bạn đang có chút rắc rối ở đó, Tony. Chúng tôi muốn giúp đỡ ông”.
“Tôi không gặp rắc rối gì hết”, Orsatti nổi giận. “Quả là có một vài vấn đề gần đây, song chúng đã được giải quyết”.
“Đó không phải là điều chúng tôi được nghe, Tony. Có tin rằng, khu vực của ông đang trở nên lung tung, không có ai kiểm soát cả”.
“Tôi kiểm soát”.
“Có thể là quá nặng đối với ông. Có thể là ông đã làm việc quá mệt mỏi. Có lẽ ông nên nghỉ ngơi một chút”.
“Đây là khu vực của tôi. Không ai có thể giật nó khỏi tay tôi cả”.
“Này Tony, ai nói tới chuyện giật nó khỏi tay ông nhỉ?
Chúng tôi chỉ muốn giúp đỡ. Các gia đình ở miền Đông này đã nhóm họp và quyết định gửi dăm người của chúng tôi xuống đó để chìa ra cho ông một bàn tay bé nhỏ. Như vậy chẳng có gì là sai quấy giữa những bạn bè cũ, phải không nào?”.
Ernestine đã chuẩn bị món tôm cho bữa ăn chiều và nó đang âm lên trên bếp trong khi cô ta và Tracy đang chờ Al trở về. Cái nóng ngột ngạt của tháng Chín đã làm cho thần kinh của mọi người trở nên bức bối, bởi vậy khi mà Al bước vào căn phòng hẹp thì Ernestine gào lên. “Quỷ tha ma bắt, anh đi đâu đấy?
Đồ ăn trên bếp đang cháy rồi kia kìa, cả tôi cũng vậy nữa”.
Thế nhưng Al không để ý vì tâm trạng đang quá phấn chấn. “Tôi quả có bận một chút và hãy đợi nghe tôi nói đây này”. Anh ta quay sang Tracy. “Bọn Maphia miền Đông đã động đến Anthony Orsatti rồi”. Khuôn mặt anh ta rạng lên. “Cô đã quật ngã cái đồ chó đẻ đó”. Anh ta nhìn vào mắt Tracy và nụ cười bỗng tắt ngấm. “Cô không thấy hạnh phúc à, Tracy?”.
Một từ lạ lẫm, Tracy thầm nghĩ. Hạnh phúc, nàng đã quên mất nghĩa thực của từ đó và băn khoăn liệu mình có còn bao giờ thấy hạnh phúc nữa không, liệu nàng có còn bao giờ có được cảm xúc bình thường nữa không. Đã từ lâu lắm rồi, mọi ý nghĩ của nàng đều tập trung vào việc báo thù những kẻ đã hãm hại mẹ con nàng. Và lúc này thì mọi việc đã gần xong, trong nàng chỉ còn lại một nỗi trống trải.
Sáng hôm sau, Tracy dừng chân trước một quầy bán hoa. “Tôl muốn gửi một ít hoa tới viếng Anthony Orsatti.
Một vòng hoa tang gồm hoa cẩm chướng trắng với một dải băng lớn. Tôi muốn trên dải băng có dòng chữ “HÃY AN NGHỈ”. Nàng viết một tấm thiếp CON GÁI CỦA DORIS WHITNEY GỬI VIẾNG.
__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có 2 thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
BrantGam (29-09-2018), earlae18 (29-10-2016)
Old 25-08-2006, 04:55 PM   #10
Hồ sơ
cobemongmo
Super Moderator
 
cobemongmo's Avatar
 
Tham gia ngày: Aug 2006
Cư ngụ: Đức Hòa - Long An
Tuổi: 36
Số bài viết: 1,636
Tiền: 1444
Thanks: 787
Thanked 843 Times in 405 Posts
cobemongmo is an unknown quantity at this point
Default

Chương 15

PHILADELPHIA.
Thứ ba, 7 tháng Mười - 16 giờ.
Bây giờ là lúc tính đến Charles Stanhope III. Những kẻ kia đều xa lạ.
Charlés từng là người tình của nàng, là cha của đứa con không được sinh ra của nàng, và anh ta đã quay lưng lại với cả hai mẹ con nàng Ernestine và Al cùng có mặt tại sân bay New Orleans để tiễn Tracy.
“Tôi sẽ nhớ cô lắm”. Ernestine. “Hiển nhiên là cô đã làm cho cả cái thành phố này thức tỉnh. Họ phải bầu cô làm thị trưởng mới phải”.
“Cô sẽ làm gì ở Powilly?” AI hỏi.
Nàng đã nói với họ một nửa sự thật. “Trở lại với công việc cũ ở nhà băng”.
Ernestine và Al đưa mắt nhìn nhau. “Họ .... ờ ... có biết cô đang trở lại không?”.
“Không. Nhưng ông phó chủ tịch nhà băng quý tới. Sẽ không có gì vướng mắc đâu. Bây giờ rất khó kiếm chuyên viên máy tính giỏi”.
“Ồ, chúc may mắn. Giữ liên lạc, nghe chưa? Và tránh xa các rắc rối ra, cô bé”.
Ba mươi phút sau, Tracy đã ở trên bầu trời. Máy bay đang hướng về Philadelphia.
Nàng thuê buồng ở khách sàn Hilton và việc đầu tiên phải làm là lấy ra bộ váy áo tươm tất duy nhất, hơ nó trên bồn tắm đầy nước nóng để làm cho nó phẳng phiu trở lại. Hôm sau, lúc 11 giờ, nàng tới nhà băng và gặp thư ký của Claremce Desmond.
“Xin chào, Mae”.
Cô gái kia nhìn Tracy chằm chằm như thể là đang nhìn thấy một bóng ma.
“Tracy!” Cô ta muốn tránh ánh mắt nàng. “Chị có ... khỏe không?”.
“Tết thôi, có ngài Desmond ở đây không?”.
“Tôi ... tôi không biết. Để xem đã. Xin lỗi”. Cô ta đứng dậy, lúng túng, rồi vội vã đi vào phòng làm việc của viên phó chủ tịch nhà băng.
Mấy giây sau, cô ta trở ra. “Chị có thể vào”. Cô ta lách người ra khi Tracy bước qua.
Claremce Desmond đang đứng bên bàn làm việc của ông ta.
“Xin chào ngài Desmond. Thế là tôi đã trở về”. Tracy cởi mở.
“Để làm gì?” Giọng ông ta đầy vẻ thiếu thiện cảm.
Tracy sững người ngạc nhiên, và hơi dằn giọng. “Ờ, ngài chả từng nói tôi là một chuyên viên máy tính tốt nhất mà ngài từng thấy, và tôi nghĩ ...”.
“Cô nghĩ là tôi nhận cô về với công việc cũ của cô ư?”.
“Thưa ngài, vâng. Tôi đã không hề quên cái kỹ năng nghề nghiệp của mình.
Tôi có thể vẫn ...”.
“Cô Whitney”. Ông ta không còn gọi là Tracy nữa. “Tôi rất lấy làm tiếc song không thể bàn tới cái mà cô yêu cầu.
Tôi chắc cô hiểu rằng khách hàng của chúng tôi không mong muốn phải tiếp xúc với một người từng phải ngồi tù vì tội cướp có vũ trang và mưu sát. Điều đó khó mà phù hợp được với hình ảnh tất đẹp cửa nhà băng này. Tôi nghĩ rằng, với tiểu sử của cô, khó có một nhà băng nào còn muốn nhận cô vào làm việc. Tôi cho rằng cô nên cố gắng tìm kiếm một chỗ khác phù hợp với hoàn cảnh của mình. Tôi hy vọng cô hiểu rằng không có vấn đề cá nhân gì ở đây cả”.
Tracy nghe từng lời của ông ta, đầu tiên là với sự choáng váng và sau là nỗi căm giận ngày càng tăng. Ông ta coi nàng như một kẻ bị xua đuổi, một con hủi.
Chúng tôi không muốn mất cô. Cô là một trong những nhân viên quý giá nhất của chúng tôi - Ông ta đã từng nói những lời như thế.
“Còn gì nữa không, cô Whitney?” Một lời đuổi khéo.
Có hàng trăm điều Tracy muốn nói, nhưng nàng biết cũng chẳng có ích gì.
“Không, tôi nghĩ là ngài đã nói cả rồi”. Tracy quay đi và bước ra khỏi phòng, mặt nóng bừng. Dường như tất vả các nhân viên nhà băng đều tò mò nhìn nàng.
Mae đã đưa chuyện:
Kẻ tội phạm trở về.
Tracy đi ra, cổng, đầu ngẩng cao mà lòng đầy cay đắng.
Mình không thể để họ đối xử thế này với mình. Lòng tự trọng là tất cả những gì mà mình có, không kẻ nào có thể tước đoạt cái đó được.
Tracy ở lỳ trong phòng suốt ngày, đau khổ tràn đầy.
Sao mà nàng cớ thể ngây thơ tin rằng họ sẽ dang tay đón cơ chứ? Giờ đây nàng là một người đầy tai tiếng. TIN VỀ EM ĐƯỢC ĐƯA BẰNG TÍT LỚN TRÊN TỜ TIN TỨC HÀNG NGÀY PHILADELPHIA NEWS. ôi, quỷ tha ma bắt Philadelphia đi cho rảnh, Tracy nghĩ, nàng còn chút việc dở dang ở đó, nhưng khi nào xong nàng sẽ ra đi. Nàng sẽ đi New York, nơi sẽ không ai biết đến nàng. Và Tracy thấy dễ chịu hơn khi quyết định như vậy.
Chiều tối hôm đó, Tracy đến ăn tại nhà hàng cà phê Hoàng Gia. Sau buổi gặp đầy khó chịu với Claremce Desmond vào buổi sáng, nàng thấy cần có bầu không khí thoải mái của ánh sáng dịu, khung cảnh tươi vui, và âm nhạc êm ả.
Tracy gọi một ly rượu mạnh và khi người bồi bàn mang tới, ngước mắt lên, nàng đột nhiên thắt lại.
Phía bên kia căn phòng, Charles và vợ anh ta đang ngồi trong một cái ghế đôi kín đáo. Họ chưa nhìn thấy nàng.
Cảm giác thôi thúc đầu tiên của nàng là đứng dậy bỏ đi vì chưa sẵn sàng đối mặt với Charles.
“Cô muốn gọi đồ ăn bây giờ chưa?” Người phục vụ hỏi.
“Tôi còn ... Tôi còn đợi, cảm ơn”. Nàng phải quyết định xem có nên ngồi lại không.
Nàng nhìn lại Charles lần nữa, và cảm thấy ngạc nhiên, dường như đang nhìn vào một người lạ vậy. Đó là người đàn ông hói đầu, tuổi trung niên, khuôn mặt dài thượt vàng vọt với cặp vai so lại và vẻ chán chường không tả nổi lộ rõ trên nét mặt. Thật không thể nào tin nổi rằng nàng đã từng nghĩ là nàng yêu người đàn ông này, rằng nàng đã ngủ với anh ta, dự định cùng chung sống với anh ta suốt đời. Tracy liếc nhìn vợ anh ta. Cô ta cũng mang vẻ chán chường giống như Charles. Họ tạo ra ấn tượng của hai con người bị trói buộc vào với nhau và với thời gian đã trở nên khô cứng. Họ chỉ ngồi yên đó mà không nói với nhau một lời nào. Tracy có thể hình dung thấy những năm dài tẻ nhạt còn chờ đợi họ trước mặt. Không tình yêu. Không niềm vui. Đó là sự trừng phạt đối với Charles, Tracy thầm nghĩ và nàng đột nhiên cảm thấy thư thái, một cảm giác được giải thoát khỏi chuỗi tình cảm đen tối, sâu thẳm đã từng trói buộc lấy nàng.
Tracy ra dấu gọi người phục vụ lại và nói. “Tôi muốn gọi đồ ăn bây giờ”.
Tất cả đã qua đi. Quá khứ, sau cùng, đã được chôn vùi.
Cho mãi tới khi đã trở về khách sạn, tối hôm đó, Tracy mới nhớ ra rằng nàng còn một khoản tiền lương ở quỹ lương của nhà băng. Nàng ngồi xuống và tính toán số tiền đó là 1375 đô la và 65 xu.
Nàng thảo một bức thư gửi cho Claremce Desmond và hai ngày sau nhận được thư trả lời của Mae.
Cô Whitney thân mến.
Đáp lại yêu cầu của cô, ngài Desmond đã đề nghị tôi thông báo cho cô rằng, thể theo chính sách truyền thống của nhà băng trong chương trình tài chính đối với nhân viên, phần tiền của cô đã được chuyển sang quỹ chung. Ngài muốn bảo đảm với cô rằng ngài không có ác ý gì với cô.
Mae Trenton.
Thư ký của phó chủ tịch Tracy không thể nào tin được. Họ đã ăn cắp tiền của nàng, và nấp dưới cái cớ bảo vệ các nguyên tắc truyền thống của nhà băng. Không kẻ nào còn có thể lừa gạt nàng nữa.
Tracy đứng bên ngoài chiếc cổng quen thuộc của nhà băng. Nàng mang một bộ tóc giả đen và dài, mặt đánh phấn dày, sẫm mầu, với một cái sẹo đỏ sần sùi trên cằm.
Nếu có gì xấu xảy ra, họ sẽ nhớ tới cái sẹo đó. Vậy mà Tracy vẫn cảm thấy trần trụi vì rằng nàng đã làm việc trong nhà băng này tới năm năm trời và nơi đây đầy những người biết nàng quá rõ, sẽ phải hết sức thận trọng để khỏi lộ diện.
Nàng lấy từ trong bóp ra chiếc nút chai và đặt nó vào trong giầy, rồi khập khiễng đi vào nhà băng, tới trước một trong những chiếc bàn tiếp khách, và người đàn ông ngồi sau bàn, vừa nói chuyện điện thoại xong, ngước lên hỏi.
“Có gì vậy?”.
Đó là Jon Creighton, gã cuồng tín trong nhà băng.
Anh ta căm ghét người Do Thái, người da đen và người Pucetô Rico, song không hẳn là theo thứ tự như vậy. Anh ta là nỗi khó chịu của Tracy trong suốt mấy năm làm việc ở đây Lúc này thì trên vẻ mặt anh ta không có dấu hiệu gì tỏ vẻ là nhận ra Tracy.
“Chào ông”, Traey chào bằng giọng Tây Ban Nha. “Tôi muốn mở một tài khoản tiết kiệm. Nàng nói bằng giọng Mehico, cái giọng mà cô đã nghe người bạn tù Paulita nói suốt mấy tháng trời.”.
Trên mặt Creighton lộ rõ vẻ khinh miệt. “Tên?”.
“Pita Gonzales”.
“Thế cô muốn gửi vào tài khoản đó bao nhiêu?”.
“Mười đô la”.
Giọng anh ta mỉa mai “Séc hay tiền mặt?”.
“Tôi nghĩ là tiền mặt”.
Nàng cẩn thận lấy từ ví ra một tờ đô la rách nát, cuộn tròn và đưa nó cho anh ta và nhận lại một tờ khai mẫu.
“Điền vào đây”.
Tracy không hề có ý định để lại chữ viết của mình. Cô nhăn mặt. “Thưa ông tôi xin lỗi. Tôi đau tay vì một tai nạn. Ông làm ơn viết hộ tôi được không ạ?
Creighton xì mũi. Cái bọn lưng trần vô học này. “Cô nói tên là Rita Gonzales phải không?”.
“Vâng”.
“Địa chỉ?”.
Nàng nói địa chỉ và số điện thoại của khách sạn cô ở.
“Tên họ mẹ cô là gì?”.
“Gonzales. Mẹ tôi, bà ấy lấy một người chú”.
“Còn ngày sinh của cô?”.
“20 tháng Mười Hai năm 1958”.
“Nơi sinh?”.
Thành phố Mehico!.
“Mehico City. Ký vào đây”.
“Tôi sẽ phải dùng tay trái đấy”. Tracy nói. Nàng cẩm cái bút lên và nghuệch ngoạc một chữ ký không thể đọc nổi. Jon Creighton viết một cái phiếu gửi tiền.
“Tôi sẽ cho cô một cuốn séc tạm thời. Những tấm séc in sẽ được gửi bưu điện tới cho cô trong vòng ba hoặc bốn tuần”.
“Xong rồi”.
Anh ta nhìn cô đi ra khỏi nhà băng, mồm lẩm bẩm “Nói đéo gì mà khó nghe thế cơ chứ”.
Có rất nhiều cách thức bất hợp pháp để có thể tiếp xúc với một máy tính, và Tracy là một chuyên gia. Nàng đã tham gia vào việc thiết lập hệ thống báo động ở cái nhà băng này, và giờ đây phải chống lại nó.
Bước đầu tiên là tìm tới một cửa hiệu bán máy tính, nơi nàng có thể sử dụng như một điểm trung chuyển để sờ tới cái máy tính của nhà băng.
Một người bán hàng sốt sắng tiến lại phía Tracy. “Xin phép được giúp cô”.
“Xin ông đừng bận tâm. Tôi chỉ xem thôi”.
Chợt ông ta thấy một thiếu niên đang chơi một trò chơi điện tử, bèn vội vã bước tới chỗ đó. Tracy dừng lại ở chiếc máy tính kiểu để bàn ngang trước mặt, nó được nối với một điện thoại. Xâm nhập vào hệ thống máy tính thì dễ dàng thôi, song không có mã số sử dụng thích hợp thì thật khó được việc gì, thế mà cái mã số đó lại được thay đổi hàng ngày. May mà Tracy đã có mặt ở cuộc họp quyết định chọn cái mã số chính thức nguyên thủy.
“Chúng ta phải thay đổi nó thường xuyên”, Claremce Desmond nói, “để không kẻ nào có thể xâm nhập được, tuy vậy lại phải giữ sao cho nó đơn giản thôi để tiện cho những người có thẩm quyền sử dụng nó”.
Cái mã khóa mà sau cùng họ lựa chọn là sử dụng tên gọi của bốn mùa trong năm và kết hợp với con số chỉ ngày.
Tracy bật máy và bấm gọi số mã của Ngân hàng Tín nhiệm và Bảo hiểm Philadelphia - Cái nhà băng vốn quen thuộc với nàng, và nghe thấy một tín hiệu âm thanh lãnh lót với màn ảnh nhỏ trên máy bừng sang:
XIN MÃ SỐ CÓ THẨM QUYỀN.
Hôm nay là ngày mồng mười Tracy bấm phím, MÙA THU 10.
Trên màn ảnh hiện lên dòng chữ:
MÃ SỐ KHÔNG THÍCH HỢP. Sau đó màn ảnh trở nên trắng xóa.
Họ đã thay đổi mã rồi Chăng? Qua khóe mắt, Tracy thấy người bán hàng đang đi tới. Nàng bước tới bên một máy tính khác bình thản nhìn ngó rồi tiếp tục lững thững theo dọc lối đi. Người bán. hàng dừng bước. Một người xem hàng thôi, ông ta nghĩ rồi vội vã ra đón hai người khách có vẻ muốn mua hàng hơn đang đi vào. Tracy quay lại với chiếc máy tính kiểu để bàn.
Nàng đặt mình vào trong suy nghĩ của Claremce DesmOnd. Ông ta là một người của thói quen, và Tracy tin chắc rằng ông ta sẽ không thay đổi quá nhiều.
Có thể là vẫn giữ nguyên mẫu ban đầu về mùa và các con số, thế nhưng đã sửa đi như thế nào? Nếu đảo những con số thì sẽ quá phức tạp, vậy thì có thể ông ta đã hoán vị tên gọi của các mùa mà thôi.
Tracy thử lại.
XIN MÃ SỐ CÓ THẨM QUYỀN?
MÙA ĐÔNG 10.
MÃ SỐ KHÔNG THÍCH HỢP. Màn ảnh lại trắng xóa.
XIN MÃ SỐ CÓ THẨM QUYỀN?
MÙA XUÂN 10.
Màn ảnh trắng đi trong giây lát, rồi một dòng chữ hiện lên:
XIN MỜI SỬ DỤNG.
Vậy là ông ta đã chuyển các mùa. Nàng nhanh chóng gõ trên các phím chữ:
GIAO DỊCH TIỀN TỆ NỘI BỘ.
Ngay tức khắc, thực đơn của nhà băng - danh mục các giao dịch có thể tiến hành bừng sáng trên màn ảnh:
BẠN MUÔN A - GỦI TIỀN B - RÚT TIỀN TIẾT KIỆM D - CHUYỂN NGANG E - RÚT TIỀN TỪ TÀI KHOẢN SÉC XIN MỜI ĐƯA LỰA CHỌN CỦA BẠN VÀO MÁY.
Tracy cho “B”. Màn ảnh trắng đi giây lát và một biểu mục khác xuất hiện.
SỐ LƯỢNG TIẾN CHUYỂN GIAO?
CHUYỀN TỚI ĐÂU?
CHUYỂN TỪ ĐÂU?
Tracy bấm lên các phím chữ:
TỪ QUỸ DỰ TRỮ CHUNG TỚI RITA GONZALES. Khi phải đưa yêu cầu số lượng tiền vào, nàng lưỡng lự một chút.
Cám dỗ quá, Tracy nghĩ bụng. Bởi vì đến lúc này không cô hạn chế nào cho số lượng tiền mà cái máy tính ngoan ngoãn này sẽ chuyển đi. Nàng có thể lấy hàng triệu. Nhưng nàng đâu có phải kẻ ăn cắp. Tất cả những gì Tracy muốn chỉ là khoản tiền thực sự là của nàng mà thôi.
Nàng đưa con số 1.375 Đô la và 65 xu vào tài khoản của Rita Gonzales.
Trên màn ảnh hiên lên:
GIAO DỊCH ĐÃ HOÀN THÀNH, BẠN CÓ MUỐN THỰC HIỆN GIAO DỊCH NÀO NỮA KHÔNG?
KHÔNG.
BUỔI LÀM VIỆC ĐÃ XONG. XIN CẢM ƠN BẠN.
Khoản tiền đó sẽ được CLIPS - hệ thống thanh toán liên ngân hàng, tự động chuyển giao. Hệ thống này mỗi ngày kiểm soát việc chuyển một khoản tiền lên tới 220 tỷ đô la từ ngân hàng này sang ngân hàng khác.
Người bán hàng đang đi tới, cau có. Tracy vội vã ấn một cái nút và màn ảnh tắt ngấm.
“Cô muốn mua cái máy này ư?”.
“Không cám ơn”, Tracy nói vẻ xin lỗi. Tôi không hiểu gì về những chiếc máy tính này”.
Từ một cửa hiệu thuốc gần đó nàng gọi điện thoại tới nhà băng và yêu cầu được nói chuyện với người thủ quỹ tiền mặt.
“Xin chào. Tôi là Rita Gonzales. Tôi muốn chuyển tài khoản séc của tôi tới chi nhánh của ngân hàng Hanover I ở thành phố New York”.
“Số tài khoản, thưa cô Gonzales?”.
Tracy trả lời cô ta.
Một giờ sau, Tracy trả phòng ở khách sạn Hilton và lên đường đi New York.
Khi Ngân hàng Hanover I New York mở cửa lúc 10 giờ sáng hôm sau, Rita Gonzales đã có mặt để rút hết tiền khỏi tài khoản của mình.
“Còn bao nhiêu trong đó?” Nàng hỏi.
Người thủ quỹ kiểm tra rồi đáp, “Một nghìn ba trăm tám mươi lăm đô la, sáu mươi lăm xu”.
“Vâng, đúng thế”.
“Cô muốn một tấm séc bảo đảm ư, cô Gonzales?”.
“Không, cám ơn”. Tracy nói. “Tôi không tin các nhà băng. Tôi sẽ lấy tiền mặt”.
Ngày ra tù, Tracy đã được cấp hai trăm đô la theo chế độ, cộng với một khoản tiền nhỏ trả cho việc trông nom Amy, thế nhưng cộng cả số tiền rút ra được khỏi nhà băng nữa, nàng cũng không được bảo đảm chắc chắn gì về mặt tài chính. Việc phải nhanh chóng tìm chỗ làm là rất khẩn cấp.
Nàng thuê buồng ở một khách sạn rẻ tiền trên đường Lexington và bắt đầu gửi đơn xin việc đến các nhà băng ở New York. Giờ đây thì Tracy thấy rằng cái máy tính đột nhiên trở thành kẻ thù của mlnh. Cươc đời nàng không còn là một cái gì riêng tư nữa. Các bộ nhớ của máy tính đã lưu giữ câu chuyện về nàng và sẵn sàng kể lại cho bất kỳ ai ấn đúng nút cần thiết. Ngay khi cái tiền án của nàng được đưa ra thì lập tức đơn xin việc của nàng bị bác bỏ.
Tôi nghĩ rằng, với số tiền sử của cô, khó có thể có nhà băng nào còn muốn nhận cô vào làm việc”. Claremce Desmond đã nói đúng.
Tracy tiếp tục gửi đơn xin việc tới các công ty bảo hiểm và một loạt các ngành nghề có sử dụng tới máy tính. Câu trả lời luôn luôn là:
Không.
Được lắm, Tracy nghĩ, mình còn có thể có một cách nữa. Nàng mua tờ The New York Tines và xem kỹ những quảng cáo tìm người làm việc.
Có một công việc được ghi là làm thư ký trong một công ty xuất khẩu.
Nhưng ngay khi Tracy bước vào cửa, viên phụ trách nhân sự đã kêu lên.
“Này, tôi thấy cô trên ti vi. Cô cứu sống một đứa trẻ trong nhà tù, có phải không nào?
Tracy bỏ đi ngay.
Ngày tiếp theo, nàng được thuê vào làm chân bán hàng ở một cửa hàng cho trẻ em ở đường Saks. Tiền công thấp hơn nhiều so với tiền lương của nàng trước đây, nhưng ít nhất thì cũng là đủ sống.
Vào ngày làm việc thứ hai thì một khách hàng quá khích động đã nhận ra nàng và thông báo cho người quản lý biết là bà ta không muốn được phục vụ bởi một kẻ giết người đã từng dìm chết đuối một đứa trẻ. Người ta không để cho Tracy có cơ hội giải thích. Nàng bị sa thải ngay.
Với Tracy, lúc này dường như những kẻ mà nàng đã báo thù, sau cùng 1ại vẫn là kẻ chiến thắng. Chúng đã biến nàng thành một kẻ tội phạm trước công luận, một kẻ bị xua đuổi. Sự bất công của những gì đang xảy ra với nàng làm nàng mệt mỏi, chán chường. Nàng không biết là sẽ làm sao để sống, và lần đầu tiên nàng bắt đầu có một cảm giác tuyệt vọng. Tối hôm đó nàng kiểm lại tiền xem còn bao nhiêu, và tận trong một góc của chiếc ví nàng thấy mẩu giấy mà Bety Franciscus đã đưa cho ở trong tù. CONRAD MORGAN, CHỦ TIỆM KIM HOÀN, 640 ĐẠI LỘ 5, THÀNH PHỐ NEW YORK. Ông ta tham gia vào việc cải tạo tội phạm. Ông thường muốn giúp những người mới ra tù - chị ta bảo nàng thế.
Conrad Morgan và Công ty là cơ sở kinh doanh bề thế, với một người gác cửa mặc đồng phục phía ngoài và một người bảo vệ có vũ trang phía trong. Bản thân cửa hiệu này thì cũng không có vẻ gì thật ghê gớm nhưng đồ kim hoàn của nó thì toàn là loại tinh xảo và đắt tiền.
Tracy nói với người tiếp tân. “Xin cho gặp ngài Conrad Morgan”.
“Cô có hẹn không?”.
“Không. Một ... một người bạn đã khuyên tôi gặp ông ấy”.
“Tên cô?”.
“Tracy Whitney”.
“Xin đợi một chút”.
Cô ta nhấc điện thoại và thì thầm gì đó mà Tracy không thể nghe được, rồi gác máy và bảo. “Ngài Morgan hiện đang bận. Ông ấy mời cô trở lại lúc 6 giờ”.
“Vâng, cảm ơn cô”. Tracy đáp.
Nàng ra khỏi cửa hiệu và đứng bên lề đường. Không biết phải làm gì. Việc đến New York đã là một sai lầm.
Có thể là Conrad Morgan không làm gì được để giúp nàng cả. Và tại sao lại phải giúp? Nàng hoàn toàn xa lạ đối với ông ta. Tracy thầm nghĩ:
Ông ta sẽ thuyết giảng và cho một ít tiền. Hừ mình chẳng cần gì đến hai thứ đó từ ông ta hay bất kỳ ai. Mình đã sống sót. Và bằng cách nào đó mình sẽ vẫn sống được.
Thây kệ Conrad Morgan. Mình sẽ không trở lại gặp ông ta làm gì.
Tracy lang thang trên đường phố với bước chân vô định, ngang qua những căn phòng lộng lẫy trên đại lộ số 5, những tòa nhà có người bảo vệ trên đại 1ộ Công Viên, các cửa hiệu tấp nập trên đại lộ Lexlngton và đại lộ số 3 ...
Nàng đi trên các đường phố New York, đầu óc trống rỗng, mắt nhìn lơ đãng, lòng tràn ngập nỗi tuyệt vọng, đắng cay.
Vào lúc 6 giờ, Tracy tự thấy mình đứng trước ngôi nhà của Conrad Morgan và công ty trên đại lộ số 5. Người gác không còn ở đó và trên cánh cửa được khóa chặt. Tracy đấm mạnh lên cánh cửa trong một cử chỉ đầy thách thức?
Và rồi quay đi, nhưng ngạc nhiên vì cánh cửa đột ngột mở ra.
Một người đàn ông vẻ kể cả đang đứng đó ngó nàng. Ông ta hói, lơ thơ vài nhúm tóc bạc phía trên hai tai khuôn mặt đỏ rựng như một chú lùn giữ cửa.
“Chắc cô là Tracy Whitney?”.
“Vâng ...”.
“Tôi là Conrad Morgan. Xin mời cô vào?”.
Tracy bước vào cái cửa hiệu vắng ngắt.
“Tôi đang chờ cô”, Conrađ Morgan nói. “Hãy vào nói chuyện trong phòng làm việc của tôi”.
Ông ta dẫn nàng đi ngang qua những tủ kính tới trước một cánh cửa khép kín, và lấy chìa khóa mở cửa.
Phòng làm việc của ông ta bày biện tinh tế và có vẻ giống phòng ở hơn nơi làm việc, chỉ có mấy cái đi văng, mấy cái ghế tựa, và mấy cái bạn nhỏ được xếp đặt khéo léo. Trên tường đầy những bức họa cổ.
“Cô có muốn uống một chút không?” Conrad Morgan mời. “Bia, nước quả, hoặc có thể là rượu anh đào?”.
“Không, không gì hết, cảm ơn ông”.
Tracy đột nhiên cảm thấy hồi hộp. Nàng đã dẹp bỏ ý nghĩ là người đàn ông này sẽ làm gì để giúp nàng, ấy vậy mà đồng thời nàng thấy mình mong muốn đến tuyệt vọng rằng ông ta có thể ...
“Betty Franciscus khuyên tôi nên tìm đến ông, ông Morgan. Cô ấy nói ông có thể giúp những người mới ... gặp khó khăn”. Nàng không thể nói “ở tù ra”.
Conrad Morgan đan hai tay vào nhau, và Tracy để ý thấy hai bàn tay ấy được chăm chút đẹp đẽ.
“Tội nghiệp Betty. Một phụ nữ đáng yêu như vậy, cô biết đấy, cô ta rủi ro quá”.
“Rủi ro?”.
“Đúng. Cô ta bị tóm”.
“Tôi ... tôi không hiểu”.
“Thật đơn giản, Betty vốn làm việc cho tôi, được bảo vệ chu đáo. Thế rồi cô gái hội nghiệp đó phải lòng anh tài xế ở New Orleans và bỏ đi làm ăn riêng và, hừ ... họ tóm cô ta”.
Tracy bối rối. “Cô ta làm nghề bán hàng ở đây ư?”.
Conrad Morgan ngả người ra cười đến chảy cả nước mắt. “Không, cô bạn thân mến ạ. Rõ ràng là Betty đã không nói gì với cô cả”. Ông ta nhổm người trên ghế và chìa mấy ngón tay giơ lên. “Tôi có một chút việc ngoại lệ mang lại lợi nhuận rất lớn, và tôi vui lòng chia sẻ những lợi nhuận đó với các bạn đồng nghiệp của mình. Tôi thấy tốt nhất là tìm được những người như cô, xin cô thứ lỗi, những người từng có thời gian ở tù”.
Tracy nhìn vào mắt ông ta và càng bối rối hơn.
“Cô biết đấy, tôi ê một vị trí hết sức độc đáo. Tôi có đám khách hàng đặc biệt giàu có. Những người khách hàng trở thành bạn của tôi. Họ tin cậy tôi”.
Ông ta đập đập tay vào nhau một cách tế nhị”. Tôi biết rõ khi nào thì khách hàng của tôi có những chuyến đi xa. Rất ít người mang đồ kim hoàn đi đường trong thời buổi đầy rẫy những nguy hiểm này, do vậy vàng bạc, kim cương của họ thường được cất kỹ trong nhà. Tôi đề xuất cho họ mấy biện pháp an ninh mà họ cần làm để bảo vệ cho số châu báu đó. Tôi biết chính xác về số châu báu mà họ có, bởi lẽ họ đã mua chúng ở đây mà. Họ ....” Tracy đứng dậy. “Xin cảm ơn ông đã dành thì giờ cho tôi, ông Morgan”.
“Chắc là cô chưa đi ngay chứ?”.
“Nếu như tôi nghĩ đúng về điều ông đang nói”.
“Đúng thôi. Thực sự là tôi nói thế đấy”.
Nàng cảm thấy hai má nóng bừng. “Tôi không phải là một tội phạm. Tôi đến đây là để tìm một việc làm”.
“Và tôi đang dành cho cô một việc, cô bạn thân mến”. Cô sẽ chỉ mất một hay hai giờ đồng hồ, và tôi hứa trả cô 25 ngàn đô-la”. Ông ta mỉm cười đắc ý. “Miễn thuế, lẽ dĩ nhiên”.
Khó khăn lắm Tracy mới kiềm được cơn giận. “Tôi không thích. Xin ông để tôi ra chứ?”.
“Chắc chắn rồi, nếu đó là điều cô muốn”. Ông ta đưa nàng ra cửa. “Cô Whitney, cô phải hiểu rằng nếu có nguy cơ, dù là nhỏ nhất thì tôi đã chẳng dính vào chuyện này. Tôi cũng cần bảo vệ tiếng tăm của tôi chứ”.
“Tôi hứa với ông là sẽ không hé răng về chuyện này với ai”, Tracy lạnh lùng nói.
Ông ta gằn giọng. “Thực ra thì cũng không có gì để cô phải hé răng, cô bạn thân mến, phải thế không nào? Ý tôi muốn nói, ai sẽ tin cơ cơ chứ? Còn tôi là Conrad Morgan - luôn luôn là thế”.
Khi họ ra tới bên ngoài, Morgan nói. “Nếu cô có đổi ý thì hãy cho tôi biết nhé, được không? Tất nhất là gọi cho tôi sau 6 giờ chiều. Tôi chờ điện thoại của cô đấy”.
“Khỏi”, Tracy đáp cộc lốc, và bước vào màn đêm đang tràn tới. Khi trở về phòng, nàng vẫn còn run rẩy và nàng sai thằng bé giúp việc duy nhất của khách sạn ra mua một cái bánh kẹp cùng ít cà phê, cảm thấy không muốn gặp mặt ai hết. Cuộc nói chuyện với Conrađ Morgan làm nàng thấy bứt rứt, khó chịu. Ông ta đã gộp nàng vào những tội phạm, và đáng buồn là nàng đã từng chung sống với họ, dù không phải là người như bọn họ. Nàng là Tracy Whitney, một chuyên viên máy tính, một công dân lương thiện, biết tôn trọng pháp luật.
Người mà chẳng ai muốn nhận vào làm việc.
Tracy suốt đêm trằn trọc về tương lai. Nàng không có việc làm và chỉ còn lại một chút tiền. Nàng quyết định hai việc:
sáng ra sẽ chuyển tới một nơi rẻ tiền hơn và sẽ đi tìm việc làm. Bất kỳ việc gì.
Cái nơi rẻ tiền hơn ấy là căn hộ một phòng ảm đạm trên tầng bốn không có thang máy, nằm ở khu Lower East Side. Từ phòng mình, qua những tấm vách mỏng bằng giấy, Tracy có thể nghe thấy những người hàng xóm mắng chửi nhau bằng những thứ tiếng nước ngoài. Các cửa sổ và các cửa ra vào của các cửa hiệu nhỏ dọc trên các hè phố đều được bịt bằng các song sắt mà Tracy không thể hiểu nổi vì sao. Cả khu vực dường như toàn gồm những kẻ say rượu, đĩ điếm ...
Trên đường đi mua đồ ăn, Tracy đã ba lần bị quấy rầy, hai lần bởi.hai người đàn ông và một lần là đàn bà.
Mình có thể chịu đựng được. Mình sẽ không ở đây lâu mà, Tracy tự an ủi mình.
Nàng đến một hãng tìm việc làm nhỏ, cách nơi ở vài dãy phố. Cơ sở này do một bà tên là Murphy, một phụ nữ nặng nề, vẻ khắc nghiệt, điều hành. Bà ta ghi tóm tắt về Tracy rồi tò mò nhìn nàng, nói. “Tôi không hiểu sao cô lại cần tới tôi. Có tới cả tá công ty xin đổi tất cả để có một người như cô ấy chứ”.
Tracy thở dài. “Tôi có một chút rắc rối”. Nàng giải thích và bà Murphy lắng nghe và sau đó nói một cách thẳng thắn. “Cô có thể quên chuyện tìm một công việc về máy tính đi”.
“Nhưng bà chả vừa nói ...”.
“Các công ty đang cuống cuồng vì các vụ phạm pháp bằng máy tính kia kìa.
Họ sẽ không thuê bất kỳ ai có một tiền án, tiền sự gì đó”.
“Nhưng tôi cần việc làm. Tôi ...”.
“Có những loại công việc khác. Cô nghĩ sao về một người bán hàng?”.
Tracy nhớ việc xảy ra ở cái cửa hàng cho trẻ em nọ nàng không chịu nổi một lần thứ hai như thế. “Còn gì nữa không ạ?”.
Người đàn bà lưỡng lự. Tracy Whitney thì rõ là quá uổng đối với công việc mà bà Murphy nghĩ tới. “Xem nào”, bà ta nói. “Tôi biết ìa việc này thì chẳng phải để cho cô, nhưng đấy, có một công việc làm hầu bàn ở tiệm Jackson Hole.
Đó là một tiệm bán humberger ở khu phố Upper East Side.
“Nghề hầu bàn à?”.
“Phải. Nếu cô nhận, tôi sẽ không đòi cô phải trả gì hết. Tôi ngẫu nhiên biết chỗ đó thôi mà”.
Tracy cấn nhắc. Nàng đã từng làm hầu bàn ở trường đại học. Hồi đó, làm vậy cho vui. Còn bây giờ là vấn đề sinh sống.
“Tôi sẽ cố gắng xem”.
Jackson Hole là một tiệm ăn hỗn loạn, đầy những thực khách ồn ào và sốt ruột, với những đầu bếp cáu kỉnh, bẳn tính. Đồ ăn thì khá ngon và giá cả phải chăng nên lúc nào tiệm ăn này cũng đông nghẹt khách. Các cô hầu bàn phải làm việc luôn chân luôn tay không có lấy một giây thư thả và đến cuối ngày làm việc đầu tiên thì Tracy thấy như kiệt sức. Thế nhưng tiền kiếm được thì cũng khá.
Vào buổi trưa ngày hôm sau, khi Tracy đang phục vụ một bàn ăn cho gã bán hàng thì một trong số họ đưa tay luồn vào trong váy, thế là nàng đánh rơi chiếc chén đựng hạt tiêu xay lên đầu anh ta. Vậy mà cũng bị đuổi việc.
Nàng trở lại chỗ bà Murphy và kể lại chuyện xảy ra.
“Có lẽ tôi có tin tất lành cho cô đây”, bà Murphy nói.
“Đằng chỗ Wellington Arms cần sự giúp việc cho người quản lý. Tôi sẽ gửi cô tới đó”.
Wellington Arms là một khách sạn nhỏ, xinh xắn trên đại lộ Công Viên chuyên phục vụ những người giàu có và nổi tiếng. Người quản lý đã phỏng vấn Tracy và quyết định nhận nàng. Công việc không khó khăn gì, những người cùng làm đều khá dễ chịu, và thời gian làm việc cũng không nhiều lắm.
Sau một tuần lễ, Tracy được gọi tới văn phòng của người quản lý. Viên trợ lý giám đốc cũng có mặt.
“Hôm nay, cô đã kiểm tra phòng 827 chưa?” Người quản lý hỏi Tracy. Căn phòng này là của Jennifer Maloewe, một nữ diễn viên Hollywood. Một phần công việc của Tracy là kiểm tra các buồng xem những người hầu đã làm bổn phận của họ một cách thích đáng chưa.
“Rồi, sao cơ ạ?”.
“Lúc mấy giờ?”.
“Lúc 14 giờ. Có gì không ạ?”.
Viên trợ lý giám đốc lên tiếng. “Lúc 15 giờ, cô Malowe trở về và phát hiện rằng mất một chiếc nhẫn kim cương đắt tiền”.
Tracy thấy toàn thân căng lên.
“Cô cố vào phòng ngủ không, Tracy?”.
“Có Tôi kiểm tra tất cả các phòng”.
“Khi ở trong phòng ngủ, cô có thấy thứ nữ trang nào ở đâu đồ không?”.
“Sao ... không. Tôi không nghĩ vậy”.
Viên trợ lý giám đốc chộp ngay. “Cô không nghĩ vậy?
Cô không chắc chứ gì? “ “Tôi không tìm đồ nữ trang làm gì”, Tracy nói. “Tôi chỉ kiểm tra giường đệm và khăn mặt”.
“Malowe quả quyết rằng khi cô ấy đi thì cái nhẫn kim cương để trên mặt bàn phấn”.
“Tôi không biết gì về chuyện đó”.
“Không còn ai khác được đến phòng đó. Những người hầu khác thì đã ở đây với chúng tôi nhiều năm rồi”.
“Tôi không lấy”.
Viên trợ lý giám đốc thở dài. “Chúng tôi sẽ phải gọi cảnh sát tới điều tra vậy”.
“Phải là một kẻ nào đó”, Tracy kêu lên. “Hoặc không phải cô Malowe để ở đó”.
“Với tiểu sử của cô ...” viên trợ lý giám đốc nói.
Vậy đó, người ta đã nói trắng ra. “Với tiểu sử của cô ...”.
“Tôi sẽ phải yêu cầu cô đợi trong phòng bảo vệ cho tới lúc cảnh sát tới”.
Tracy thấy mặt mình đỏ bừng. “Vâng, thưa ngài”.
Nàng được dẫn tới phòng bảo vệ bởi một người gác, và thấy dường như lại đang ở trong tù. Nàng đã từng nghe những người tù bị săn đuổi vì tiền án của họ, song chưa bao giờ tin cái loại chuyện đó lại có thể xảy ra với mình.
Họ đã gắn một cái nhãn hiệu độc ác lên nàng, và tin nàng sẽ sống mãi với cái đó. Hoặc là khuất phục với cái đó, Tracy cay đắng nghĩ.
Ba mươi phút sau, viên trợ lý giám đốc bước vào, mỉm cười “Cô Malowe đã tìm thấy cái nhẫn. Hóa ra là đã để nó lẫn vào đâu đó. Một sự nhầm lẫn nhỏ”.
“Tuyệt vời”. Tracy thốt lên.
Nàng bỏ đi, và hướng về phía ngôi nhà của Conrad Morgan và Công ty.
“Thật hết sức đơn giản”, Conrad Morgan nói. “Một khách hàng của tôi, Lois Bel1amy, đã đi châu Âu. Nhà bà ta ở khu Sea Cliff, trên Đảo Dài. Vào cuối hàng tuần, tất cả các người hầu đều không đến làm việc, do vậy ở đó không có ai. Cứ 4 tiếng đồng hồ thì có một nhóm bảo vệ tư nhân tới kiểm tra qua loa. Cô có thể vào rồi ra khỏi ngôi nhà trong ít phút đồng hồ”.
Họ ngồi trong phòng làm việc của Conrad Morgan.
“Tôi biết hệ thống báo động và tôi biết các khóa mở két. Tất cả những gì cô phải làm, cô bạn thân mến, là bước vào, nhặt lấy chỗ kim cương, rồi đi ra. Cô mang chỗ kim cương đến cho tôi, tôi sửa lại đôi chút rồi mang bán lại”.
“Nếu đơn giản vậy, sao ông không tự làm lấy?”. Tracy hỏi thẳng.
Cặp mắt ông ta đầy ranh mãnh. “Vì lẽ tôi sắp đi khỏi thành phố vì công việc.
Bất kỳ khi nào một “vụ” nho nhỏ kiểu đó xảy ra, tôi đều đang đi vắng vì công việc gì đó”.
“Tôi hiểu”.
Nếu như cô áy náy gì về việc mất mát này làm cho bà Beliamy đau khổ, thì dẹp đi. Đó thực sự là một người đàn bà ghê gớm, có nhà cửa trên khắp thế giới với đầy đồ đạc quý giá. Ngoài ra, bà ta còn được bảo hiểm số kim cương đó tới gấp hai lần trị giá thực của chúng. Tất nhiên, tôi là người đánh giá chúng”.
Tracy nhìn Conrad Morgan, nghĩ ngợi. Mình điên à.
Mình ngồi đây bình thản bàn đến việc cướp đoạt kim cương của người ta, với gã đàn ông này.
“Tôi không muốn trở lại nhà tù, ông Morgan ạ”.
“Không hề có nguy cơ đó. Chưa bao giờ người của tôi bị tóm cả. Không, chừng nào họ đang làm việc cho tôi. Ồ ... ý cô thế nào?”.
Điều đó là quá rõ. Nàng sẽ nói không. Toàn bộ ý đồ này là điên rồ.
“Ông nói 25 ngàn đô la phải không?”.
“Trả tiền mặt lúc giao hàng”.
Đó là cả một gia tài. Nàng nghĩ tới căn phòng chật hẹp, ảm đạm đang ở, với những tiếng la hét của những người thuê nhà khác, và tiếng hét của khách hàng.
“Tôi không muốn một kẻ sát nhân phục vụ tôi” và cả lời viên trợ lý giám đốc kia, “Chúng tôi sẽ phải gọi cảnh sát tới điều tra vậy”.. Nhưng vẫn không thể nào nói là đồng ý.
“Tôi đề nghị vào đêm thứ bảy này”. Conrad Morgan nói. Đám phục vụ đều ra về từ buổi trưa các ngày thứ bảy. Tôi sẽ lo liệu cho cô một bằng lái xe và một thẻ mua hàng với cái tên giả. Cô sẽ thuê một chiếc ô tô ở Manhattan này và lái tới Đảo Dài, đến đó vào lúc 23 giờ.
Cô sẽ nhặt số kim cương, lái xe quay lại New York và trả lại chiếc xe ... Cô biết lái xe chứ?”.
“Biết”.
“Tuyệt vời. Có một chuyến xe lửa đi St.Louis lúc 7 giờ 45 sáng. Tôi sẽ đặt một khoang cho cô rời sẽ đón cô tại nhà ga St. Louis, cô trao cho tôi chỗ kim cương và tôi sẽ trao 25 ngàn đô la cho cô”!
Ông ta làm mọi chuyện có vẻ đơn giản.
Đây là lúc phải nói “Không”, rồi đứng dậy và ra đi.
Nhưng mà đi đâu cơ chứ?
Khi Tracy đã đi, Conrad Morgan ngồi yên trong bóng tối của căn phòng làm việc ngẫm nghĩ về nàng. Một cồ gái đẹp Thật sự là rất đẹp. Thật xấu hổ. Lẽ ra, phải nói cho nàng biết rằng ông ta thực sự không hiểu rõ hệ thống báo động chống ăn cắp rất đặc biệt đó.

__________________
Chỉ mất một phút để quen ai đó, một giờ để thích ai đó , một ngày để yêu ai đó , nhưng sẽ là cả đời để bạn quên đi một người mà bạn yêu.

Khi yêu một người nào đó bạn hãy để cho người ấy ra đi (nếu họ muốn) nếu họ quay lại họ thuộc về bạn, còn nếu họ không quay lại có nghĩa là từ trước đến giờ họ chưa bao giờ thuộc vê bạn.
-------------0978184058, 01229921853
cobemongmo is offline   Trả Lời Với Trích Dẫn
Đã có thành viên gửi lời cám ơn đến cobemongmo vì bạn đã đăng bài:
psydayDrype (21-10-2015)
Trả lời


Ðiều Chỉnh
Xếp Bài

Quyền Sử Dụng Ở Diễn Ðàn
Bạn không được quyền gởi bài
Bạn không được quyền gởi trả lời
Bạn không được quyền gởi kèm file
Bạn không được quyền sửa bài

vB code đang Mở
Smilies đang Mở
[IMG] đang Mở
HTML đang Tắt
Chuyển đến


Website sử dụng phần mềm vBulletin phiên bản 3.6.8
do Công ty TNHH Jelsoft giữ bản quyền từ 2000 - 2020.
Múi giờ GMT +7. Hiện tại là 05:08 AM.

Hội CHS Lê Quý Đôn-Long An giữ bản quyền nội dung của website này

Tự động[F9]TELEX VNI VIQR VIQR* TắtKiểm chính tảDấu cũ
phan mem quan ly ban hang | thuê vps